Blog Archives

Hoạt độ phóng xạ của gạch men có thể vượt ngưỡng

Cập nhật lúc : 9:41 AM, 07/09/2009

Hoạt độ phóng xạ của một số vật liệu xây dựng như gạch men, đá granit, đá thiên nhiên và đá nhân tạo… có thể cao vượt ngưỡng cho phép.

Theo đề tài nghiên cứu mới đây “Xác định hoạt độ phóng xạ tự nhiên trong  một vài nhóm vật liệu xây dựng khu vực TP HCM theo tiêu chuẩn xây dựng Việt Nam TCXDVN 397:2007”,  tiến sĩ Trần Văn Luyến, Trung tâm Kỹ thuật hạt nhân TP HCM chỉ ra trong nhóm bốn loại vật liệu xây dựng như: gạch men, gạch, xi-măng, đá granit thì gạch men đứng thứ nhất trong số vật liệu có hoạt độ phóng xạ cao, kế tiếp là đá granit.

Dùng gạch men và đá granit để lót sàn không vấn đề gì, nhưng tiến sĩ Luyến cảnh báo, với những gian phòng nhỏ, hẹp, thể tích bé thì phải thật cẩn trọng khi dùng gạch men để ốp tường.

Nhóm nghiên cứu khảo sát 90 mẫu gạch men mua trên thị trường thì trong số đó, có một vài mẫu có hoạt độ phóng xạ cao vượt ngưỡng cho phép so với tiêu chuẩn của một số nước châu Âu. Một số nhà khoa học cũng cho biết thêm, trong những khe nứt của đá granit cũng tồn tại chất phóng xạ, nhưng mức độ nhiều hay ít thì phải đo và kiểm tra.

Nên chọn lựa kỹ khi mua gạch men Ảnh: Đ. Long

Tiến sĩ Luyến khuyến cáo, các nhà sản xuất gạch men nên lựa chọn, kiểm tra kỹ nguyên liệu làm lớp men của gạch men. Vì chất phóng xạ sinh ra từ lớp men nhiều hơn chứ không phải xương gạch men.

Với người tiêu dùng, nên chọn gạch men của các nhãn hiệu uy tín, sử dụng gạch men và đá granit trong trang trí, phân tán mỗi nơi một ít để đảm bảo an toàn.

Ngoài ra, với những gian phòng nhỏ hẹp lại luôn phải đóng cửa kín như nhà tắm, cần chọn loại gạch tốt, gắn thêm quạt thông gió để căn phòng được thoáng, không khí được lưu thông.

Nếu cẩn thận hơn, trước khi sử dụng vật liệu xây dựng như gạch men và đá granit có thể mang mẫu đến Trung tâm Kỹ thuật hạt nhân TP HCM để đo hoạt độ phóng xạ của chúng.

Dùng kính cường lực, dùng ván để thay thế cho gạch men trong xây dựng là xu thế hiện nay. Nhưng để sử dụng các vật liệu mới đó đòi hỏi phải tốn một khoản tiền lớn, độ bền của vật liệu cũng như cách bảo quản chúng khá vất vả. Vì vậy gạch men, gạch giả đá vẫn là những vật liệu ưu tiên hàng đầu.

Trên thị trường có đến hàng nghìn mẫu gạch men, từ gạch châu Âu có giá vài trăm nghìn đồng một viên đến gạch Trung Quốc giá thấp hơn. Gạch Việt Nam cũng dần khẳng định được thương hiệu, tên tuổi với nhiều chủng loại, mẫu mã đa dạng, phong phú.

Gạch men ngoài việc được dùng lót sàn nhà còn được dùng để ốp tường trang trí. Những chỗ như nhà bếp, nhà tắm, gạch men được ốp để dễ dàng lau chùi khi nước hay dầu mỡ bắn lên tường. Ngoài ra còn tạo cảm giác thoải mái, sạch sẽ cho gian bếp, chống ẩm cho nhà tắm.

Đá granit cũng có những công dụng như gạch men. Thường được dùng làm tấm ốp mặt tiền trang trí tạo sự sang trọng hay làm mặt bếp để đảm bảo vệ sinh trong quá trình nấu nướng, chế biến món ăn. Vì đá granit có đặc điểm dễ lau chùi khi bị bám bẩn hay dầu mỡ. Hiện, ở Việt Nam có hai loại đá granit, đá thiên nhiên và đá nhân tạo.

Vũ Quang
tuvanonline.com/tintuc/khoa-hoc-…anonline
Advertisements

WHO cảnh báo lạm dụng phóng xạ trong y tế

09/09/2009 | 13:58:00
Ngành y tế thế giới đang sử dụng không thích hợp – đến mức lạm dụng – phóng xạ trong phát hiện và điều trị bệnh.

Trên đây là nhận định của các chuyên gia đến từ 40 nước tham dự Hội nghị về sử dụng phóng xạ trong y tế do Cơ quan Năng lượng nguyên tử quốc tế (IAEA) và Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) tổ chức tại Brussel, Bỉ.

Số liệu của WHO cho thấy, hiện cứ 10 trường hợp sử dụng phóng xạ trong y tế thì có tới 3 trường hợp là không cần thiết.

Các chuyên gia năng lượng hạt nhân quốc tế nhấn mạnh liệu pháp phóng xạ là công cụ rất hiệu quả để cứu người bệnh, cho phép bác sĩ phát hiện các bệnh còn ở dạng tiềm ẩn và đưa ra liệu pháp điều trị chính xác.

Tuy nhiên, các chuyên gia cũng cho rằng sự lệ thuộc vào công nghệ hạt nhân đang tăng lên và các liều phóng xạ trong điều trị bệnh ngày càng cao hơn do các chuyên gia y tế thiếu nghiêm trọng kiến thức về phóng xạ hạt nhân.

Vì vậy, ngành y tế thế giới cần có sáng kiến mới để tiêu chuẩn hóa cách tiếp cận và sử dụng các liều phóng xạ, đồng thời gia tăng nhận thức về hiểm họa của việc sử dụng phóng xạ cho các bác sĩ.

Hiện nay, các chuyên gia về an toàn phóng xạ, nhà chế tạo và chuyên gia công nghệ thông tin đã phối hợp nghiên cứu phát triển thành công “Thẻ thông minh” để ghi lại lượng phóng xạ một bệnh nhân đã nhận trong cuộc đời của họ.

“Thẻ thông minh” hứa hẹn sẽ góp phần bảo vệ người bệnh tốt hơn  trước nguy cơ bị nhiễm xạ trong quá trình điều trị bệnh./.

(TTXVN/Vietnam+)

Sống với phóng xạ: không nên hững hờ, đừng quá lo lắng

Cập nhật lúc 10:25, Thứ Năm, 10/08/2006 (GMT+7)

(VietNamNet) – Người dân thời văn minh biết chấp nhận sống chung với phóng xạ, nhưng cũng cần hiểu hơn về nó để tránh rơi vào thái quá. Đó là thông điệp của Thư Hà Nội hôm nay với mọi người …

Sau những câu chuyện “mất nguồn phóng xạ”, rồi “gạch men phóng xạ” người dân thời văn minh bắt đầu để ý đến một dạng môi trường  mới: phóng xạ.

Tuy vậy, hình như vẫn còn đây đó, nơi này thì hờ hững xem đó là chuyện đâu đâu, chỗ khác lại quá nhấn mạnh nguy cơ ô nhiễm của loại môi trường này.

Phóng xạ : sao lại hững hờ !

Phóng xạ có ở mọi nơi. Điều này tưởng đã là điều hiển nhiên, nhưng vẫn có người còn ngạc nhiên. Ngay trên một tờ báo phổ thông về khoa học, có người viết rằng: không có nơi nào ở nước ta, “ngoài hai vùng là Lào Cai và Lai Châu có chứa chất phóng xạ”!. Và nếu có, chỉ (xuất hiện) “ở nơi có chiến tranh, có vũ khí phóng xạ (!)”. Hoặc còn giải thích thêm: “các chất phóng xạ (nếu) có trong gạch, (thì) sau khi nung sẽ chuyển từ pha rắn sang pha lỏng, rất khó xảy ra phóng xạ (!)”.

Thực ra, con người bao đời nay, dù ở bất cứ nơi nào trên trái đất đều đang sống chung với chất phóng xạ, thường xuyên bị tác động bởi các tia phóng xạ (thường gọi là bức xạ). Nói cách khác, con người đang sống chung giữa môi trường phóng xạ hay môi trường bức xạ.

Do có hai loại phóng xạ, bức xạ cũng được phân chia ra: bức xạ tự nhiên và bức xạ nhân tạo.

Bức xạ tự nhiên gồm các tia bức xạ bay tới từ mặt trời hay vũ trụ (tia vũ trụ) và các bức xạ phát ra từ các đồng vị phóng xạ có trong đất đá, cây cỏ, thức ăn, nước uống, không khí…

Bức xạ nhân tạo lại phát ra bởi các đồng vị phóng xạ được sản xuất bởi con người. Nguồn phóng xạ Eu thất thoát hai tháng trước là một loại bức xạ nhân tạo sản xuất ở Lò phản ứng hạt nhân Đà lạt. Bức xạ nhân tạo cũng có thể phát ra từ các thiết bị hạt nhân dùng trong y tế hay trong các ngành kỹ thuật, như máy chụp X quang, chụp CT, máy kiểm tra chất lượng sản phẩm và công trình v.v …

Đều cùng bản chất vật lý như nhau, nhưng mức độ đóng góp vào môi trường phóng xạ chung của hai loại bức xạ khác xa nhau. Nhiều công trình nghiên cứu đã xác định rằng: Trên phạm vi toàn cầu, sự đóng góp của các bức xạ tự nhiên là lớn nhất, chiếm đến khoảng 85%. Trong đó, từ đất đá chiếm 18%, từ khí Radon – 42%, từ thức ăn và nước uống – 11% và tia vũ trụ – 14%.

Bức xạ nhân tạo chiếm phần nhỏ hơn, khoảng 15%. Trong đó các hoạt động y tế như khám chữa bệnh (kiểm tra X quang, chữa răng….) chiếm 14,2 %, bụi phóng xạ từ các vụ thử bom nguyên tử trên mặt đất trước đây đóng góp 0,71 % và hoạt động của các nhà máy điện nguyên tử chỉ tham gia phần rất bé nhỏ – 0,0355 %.

Ở nước ta, đã có nhiều công trình điều tra phông phóng xạ tự nhiên trên nhiều vùng lãnh thổ khác nhau. Còn có cả dự án khảo sát phóng xạ nhân tạo.

Các số liệu về phóng xạ tự nhiên trên nhiều vùng, chủ yếu ở Miền Bắc, được thu thập từ 50 năm trước, bởi các đơn vị khảo sát thăm dò khoáng sản thuộc ngành Địa chất. Những chuyến bay khảo sát địa vật lý trên nhiều địa phương mang theo máy tự ghi phóng xạ gamma. Tiếp theo là các đơn vị địa vật lý khảo sát trên bộ ở một số vùng lãnh thổ. Họ đã xây dựng một bản đồ trường phóng xạ tự nhiên thô với tỉ lệ 1:500.000.

Các thầy trò của một số trường đại học, đặc biệt các nhóm nghiên cứu thuộc các viện trong ngành năng lượng nguyên tử VN, trong vài thập niên gần đây, đã mở rộng và nâng cấp công việc khảo sát.

Về phóng xạ nhân tạo, ngoài sự phát hiện, năm 1986, bụi phóng xạ nhân tạo trong khí quyển bay đến từ vụ nổ lò phản ứng của nhà máy điện nguyên tử Chernobyl, gần đây lại điều tra thu thập được một bộ số liệu về sự phân bố trên toàn lãnh thổ nước ta, của các chất phóng xạ nhân tạo, chủ yếu là Cs-137, phát tán từ vụ nổ Chernobyl, và đặc biệt từ các vụ thử vũ khí nguyên tử ồ ạt trên mặt đất giữa những năm 50-60 của thế kỷ trước.

Với các kết quả thu được, có thể thấy ở nước ta, cũng như trên toàn thế giới, ở đâu cũng có phóng xạ, nhân tạo và tự nhiên. Hơn nữa, các số liệu khảo sát cho biết khái quát hình ảnh sự phân bố phóng xạ trên toàn lãnh thổ nước ta.

Ngoài ra, đã phát hiện những vùng hoạt độ phóng xạ cao như các vùng mỏ Urani, Thori và đất hiếm (Tây Bắc), mỏ graphit (vùng Quảng Nam) hay mỏ sa khoáng (dọc bờ biển Trung bộ).

Chính ở các địa phương này, sự quan tâm theo dõi tình hình sức khoẻ của dân cư nên được đặt ra. Lại càng phải kiểm tra chặt chẽ và áp dụng các quy tắc và biện pháp phòng chống hữu hiệu đối với công nhân làm việc trong môi trường phóng xạ cao, đặc biệt ở các công đoạn khai thác chế biến khoáng sản.

Cũng nên nhấn mạnh rằng, dù thành phần bức xạ nhân tạo trong môi trường nói chung rất bé, nhưng nguy cơ tiềm ẩn tác hại lại rất cao đối với một số nhóm người và một số địa điểm sử dụng chất phóng xạ và thiết bị hạt nhân. Đáng lưu ý là trường hợp hàng ngàn nguồn phóng xạ kín hở đang nằm rải rác khắp nơi, hàng ngàn máy chiếu chụp tia X đang có mặt từ bắc đến nam, ở thành thị và nông thôn, nhưng không phải tất cả nằm trong tầm kiểm soát của các cơ quan quản lý.

Sự thực là vậy, sao có thể hững hờ như chuyện đâu đâu xa xôi được. Đã đến lúc sự không hiểu biết, sự thờ ơ hay coi thường đối với điều kiện sống và làm việc với bức xạ của bản thân mỗi người và sự lỏng lẻo trong quản lý của một số cơ quan hữu quan là điều không xem là bình thường trong một đời sống văn minh, trong một đất nước có pháp luật.

Phóng xạ : đừng quá lo lắng

So sánh phông phóng xạ một số nước công nghiệp phát triển

Bây giờ lại đề cập đến một góc khác với phóng xạ. Cũng trong thời gian gần đây, phát biểu với báo chí, có chuyên gia đã đề cập đến chuyện di dời dân khỏi những vùng “không an toàn”, nơi mà số liệu đo phóng xạ dã ngoại cho thấy cao hơn bình thường. Cụ thể là: “Những điểm lân cận (vùng dân cư) có độ tích tụ năng lượng bức xạ trong một năm là 2 – 4 mSv, trong khi tiêu chuẩn môi trường cho phép chỉ là 1 mSv (!)”.

Trước hết, có lẽ nên biết sơ qua, rằng mSv là đơn vị đo liều hiệu dụng, một đại lượng nói lên mức độ tác động của mọi loại bức xạ lên tế bào trong cơ thể con người. Độ lớn của phông phóng xạ môi trường được mô tả qua liều hiệu dụng trung bình trong một năm mà mỗi người nhận được, và đơn vị đo của nó là mili-silvert/năm (hay viết tắt mSv/n).

Trên thế giới,  tổ chức quốc tế UNSCEAR đã tập hợp số liệu từ nhiều nước và nhiều vùng khác nhau, với khoảng 23 nước, chiếm một nửa số dân trên hành tinh, và đưa ra con số về phông phóng xạ trung bình toàn cầu là 2,4 mSv/năm. Theo đó, mỗi người, trong một năm, nhận một liều hiệu dụng từ các loại bức xạ tự nhiên khoảng 2,4 mSv/năm. Ở đây, liều chiếu ngoài khoảng 1,1 mSv/năm (45%) và liều chiếu trong khoảng 1,3 mSv/năm (55%).

Nhiều nước trên thế giới có phông phóng xạ cao hơn mức trung bình nói trên. Chẳng hạn, trong các nước Âu và Úc châu, môi trường phóng xạ trong lành nhất là hai nước Anh (UK) và Úc (Australia) với phông phóng xạ (hay liều hiệu dụng trung bình) khoảng 1,6 mSv/năm. Nhưng, ở Phần lan (Finland) lại có phông phóng xạ rất cao; gần 8 mSv/năm, kế đến là Pháp (France) và Tây ban nha (Spain) với gần 5 mSv/năm.

Thế nhưng, có những vùng, dân chúng sống trong một môi trường bức xạ tự nhiên rất cao, như ở Ramsar (Iran), Kerala (Ấn độ), Guarpapi (Braxin) và Yangjang (Trung Quốc). Một số ngôi nhà ở Ramsar người dân nhận liều bức xạ vào cỡ 132 mSv/năm, cao hơn mức trung bình thế giới khoảng 50 – 70 lần.

Ở nước ta, một số số liệu đo trên các vùng dân cư ở thành phố, thị xã, ven đường quốc lộ, đồng bằng và trung du đều chứng tỏ môi trường (hay còn gọi là phông) phóng xạ tự nhiên nằm trong khoảng 2 – 2,5 mSv/n, nói chung không vượt quá phông trung bình của thế giới.

Còn ở những vùng mỏ phóng xạ và đất hiếm (Tây Bắc), graphit (vùng Quảng Nam) hay sa khoáng (dọc bờ biển Trung bộ) …, hàm lượng các nguyên tố phóng xạ trong đất đá cao hơn, và phông phóng xạ cũng cao hơn mức trung bình khoảng 1,5 – 2 lần. Có những khu vực, giữa thân các mỏ quặng, phông phóng xạ cao hơn nhiều lần, liều hiệu dụng nằm trong khoảng 10 – 30 mSv/n.

Tuy vậy, như trên đã dẫn, việc gọi một số vùng dân cư ở nước ta có phông phóng xạ nằm trong khoảng 2 – 4 mSv là những “vùng không an toàn” hoặc khuyến cáo di dời dân có lẽ chưa thật thoả đáng, hay quá lo xa, nếu so sánh với những vùng dân cư với phông phóng xạ ở nhiều nước trên dưới 5 mSv/, thậm chí cao gấp hàng chục.

Ngoài ra, ở đây, có sự nhầm lẫn, mỗi khi thấy phông tự nhiên ở đâu đó lớn hơn giá trị giới hạn liều (1 mSv/n) đã vội kết luận là vi phạm giới hạn an toàn về phóng xạ. Nên hiểu rằng, giới hạn liều 1 mSv/n, theo khuyến cáo của ICRP hay theo tiêu chuẩn TCVN 6866/2001 của Việt Nam, như sau: ngoài liều phóng xạ gây ra bởi môi trường tự nhiên, trong 1 năm, mỗi người không nên nhận thêm một liều bổ sung quá 1mSv/năm, lấy trung bình trong 5 năm liên tục.

Hiện nay, trên thế giới nói chung và ở Việt Nam nói riêng, không có giới hạn liều cho phông bức xạ tự nhiên. Liều hiệu dụng trung bình trong vòng một vài chục mSv/n vẫn được xem là liều thấp và những ảnh hưởng của liều này đến sức khoẻ con người vẫn còn tiếp tục nghiên cứu và chưa có lời đáp.

Để dễ hình dung điều này, sau đây sẽ giới thiệu về ảnh hưởng lên con người đối với các liều chiếu khác nhau (chiếu trong một thời gian ngắn):

–         Mức   200 mSv : Không có biểu hiện bệnh lý gì

–         Mức   500 mSv : giảm cầu lymp trong máu

–         Mức  3000 mSv : làm rụng tóc

–         Mức  5000 mSv : tỷ lệ tử vong là 50%

–         Mức 10000 mSv : tỷ lệ tử vong gần 100%.

Qua đó, ta thấy giá trị liều vài ba mili-Silvert là rất nhỏ so với những liều có khả năng gây ra những tác hại có thể phát hiện qua lâm sàng ở trên. Vì vậy, sự hiểu biết chưa đầy đủ và chính xác mức độ tác hại của bức xạ với sức khoẻ; dẫn đến sự nhấn mạnh đến nguy cơ phóng xạ quá mức cần thiết, làm tăng mối lo ngại trong một bộ phận dân chúng, cũng là một xu hướng không đúng. Về điều này, cơ quan truyền thông có vai trò rất quan trọng.

Tuy vậy, cũng nên hiểu thêm rằng ảnh hưởng của bức xạ liều thấp mang tính thống kê, trong đó sác suất gây tác hại tăng lên theo liều bị chiếu. Vì thế, không bao giờ xa rời thông điệp đúng đắn, nổi tiếng của nguyên lý ALARA (The dose should be As Low As Reasonably Achievable): liều bức xạ trong môi trường càng thấp bao nhiêu càng tốt bấy nhiêu, trong sự cân nhắc các lợi ích kinh tế xã hội khác.

Tóm lại, đã chấp nhận sống chung trong môi trường có phóng xạ, cả hai thái cực – quá hững hờ hay quá lo lắng – đều nên tránh.

*Hoàng Hà

Hài cốt phát phóng xạ

Thứ hai, 10/8/2009, 16:16 GMT+7

Tia phóng xạ vẫn đang thoát ra từ tế bào của những người chết vì bom nguyên tử tại thành phố Nagasaki, sau 64 năm kể từ khi thảm họa xảy ra.

Tia alpha (vệt màu đen) phát ra từ nhân tế bào xương, thận và phổi của nạn nhân bom nguyên tử. Ảnh: Japan Times.

Một nhóm chuyên gia Nhật Bản đã chụp được hình ảnh của các tia này.

“Trên phương diện bệnh lý, chúng tôi đã chứng minh rằng con người có thể bị phơi nhiễm phóng xạ từ bên trong. Phát hiện này có thể giúp các nhà khoa học tìm ra những tác động của phóng xạ đối với sức khỏe”, Kazuko Shichijo, một giáo sư của Đại học Nagasaki (Nhật Bản), phát biểu.

Bà Shichijo và cộng sự nghiên cứu các mẫu tế bào lấy từ hài cốt của 7 người chết trong vụ ném bom nguyên tử xuống Nagasaki vào năm 1945. Những nạn nhân này – tuổi từ 20 tới 70 – cách tâm của vụ nổ từ 0,5 tới 1 km. Họ không mất mạng ngay trong ngày quả bom được ném xuống, mà tử vong sau đó vì những căn bệnh cấp tính.

Trong các bức ảnh, nhóm nghiên cứu nhìn thấy những đường thẳng có màu tối phát ra từ nhân tế bào trong xương, thận và phổi nạn nhân. Những đường thẳng ấy chính là tia alpha – loại bức xạ được tạo ra khi các chất phóng xạ phân rã. Các tia alpha trong ảnh có độ dài tương đương với những tia alpha thoát ra từ plutonium trong quả bom nguyên tử mà Mỹ ném xuống Nagasaki.

Những bức ảnh của Đại học Nagasaki là bằng chứng đầu tiên cho thấy, hài cốt nạn nhân chết vì bom nguyên tử vẫn phát ra bức xạ sau hơn 60 năm kể từ khi thảm họa xảy ra.

Kể từ khi Thế chiến thứ hai kết thúc, nhiều nhà khoa học đã nghiên cứu những tác động của việc phơi nhiễm phóng xạ từ bên trong cơ thể, song họ chẳng thu được kết quả nào đáng kể. Thành công của Đại học Nagasaki chứng tỏ rằng nạn nhân bom nguyên tử phơi nhiễm với phóng xạ từ cả bên trong và bên ngoài cơ thể.

“Plutonium xuyên qua cơ thể khi con người phơi nhiễm với nó từ bên ngoài. Nhưng nghiên cứu của Đại học Nagasaki cho thấy nó có thể xâm nhập vào tế bào và phát ra bức xạ từ bên trong cơ thể”, Nanao Kamada, một chuyên gia về sinh học bức xạ của Đại học Hiroshima, nhận xét.

Minh Long (theo Japan Times)

Điện Hạt Nhân VN: Quan tâm nhất là văn hoá an toàn

Cập nhật: 04/06/2008 – 11:13 – Nguồn: news_source(19);VietNamNet.vn

Đối với dự án xây dựng nhà máy điện hạt nhân (NMĐHN) ở Việt Nam, theo các chuyên gia hàng đầu ngành điện hạt nhân Pháp, điều quan tâm nhất là văn hoá an toàn.

Cuộc gặp mặt giữa đoàn đại biểu các tổ chức và tập đoàn năng lượng hạt nhân Pháp và đại diện VietNamNet. Ảnh: M.T

Nội dung đáng quan tâm đó đã được đề cập đến trong cuộc trao đổi giữa Báo VietNamNet với đoàn đại biểu các tổ chức và tập đoàn năng lượng hạt nhân Pháp, khi đoàn đến thăm Toà soạn VietNamNet trong thời gian diễn ra “Triển lãm Quốc tế Điện hạt nhân năm 2008” (Hà Nội, 14-17/5/2008). Read the rest of this entry

Phóng xạ

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia

Phóng xạ là hiện tượng một số hạt nhân nguyên tử không bền tự biến đổi và phát ra các bức xạ hạt nhân (thường được gọi là các tia phóng xạ). Các nguyên tử có tính phóng xạ gọi là các đồng vị phóng xạ, còn các nguyên tử không phóng xạ gọi là các đồng vị bền. Các nguyên tố hóa học chỉ gồm các đồng vị phóng xạ (không có đồng vị bền) gọi là nguyên tố phóng xạ.

Tia phóng xạ có thể là chùm các hạt mang điện dương như hạt anpha, hạt proton; mang điện âm như chùm electron (phóng xạ beta); không mang điện như hạt nơtron, tia gamma (có bản chất giống như ánh sáng nhưng năng lượng lớn hơn nhiều). Sự tự biến đổi như vậy của hạt nhân nguyên tử, thường được gọi là sự phân rã phóng xạ hay phân rã hạt nhân.

Tự phân hạch là quá trình hạt nhân của các nguyên tử phóng xạ có số khối lớn. Ví dụ uranium tự vỡ ra thành các mảnh hạt nhân kèm theo sự thoát ra nơtron và một số hạt cơ bản khác, cũng là một dạng của sự phân rã hạt nhân.

Trong tự phân hạch và phân rã hạt nhân đều có sự hụt khối lượng, tức là tổng khối lượng của các hạt tạo thành nhỏ hơn khối lượng hạt nhân ban đầu. Khối lượng bị hao hụt này chuyển hóa thành năng lượng khổng lồ được tính theo công thức nổi tiếng của Albert Einstein E=mc² trong đó E là năng lượng thoát ra khi phân rã hạt nhân, m là độ hụt khối và c=298 000 000 m/s là vận tốc ánh sáng trong chân không.

Sự phóng xạ tự nhiên

Năm 1896, nhà vật lý người Pháp Henri Becquerel và sau đó là ông bà Pierre Curie và Marie Curie phát hiện ra rằng các hợp chất của uranium có khả năng tự phát ra những tia không không nhìn thấy được, có thể xuyên qua những vật mà tia sáng thường không đi qua được gọi là các tia phóng xạ. Dưới tác dụng của điện trường tia phóng xạ bị tách làm 3 tia:

* Tia anpha lệch về phía cực âm của điện trường, gồm các hạt anpha mang điện tích dương (gấp 2 lần điện tích của proton), có khối lượng bằng khối lượng của nguyên tử heli.
* Tia beta lệch về phía cực dương của điện trường gồm các hạt electron.
* Tia gamma không lệch về cực nào của điện trường, có bản chất như tia sáng.

Những nghiên cứu về bản chất của các hiện tượng phóng xạ chứng tỏ rằng hạt nhân của các nguyên tử phóng xạ không bền, tự phân hủy và phóng ra các hạt vật chất khác nhau như hạt anpha, beta kèm theo bức xạ điện từ như tia gamma. Đồng thời với hiện tượng phóng xạ tự nhiên, người ta cũng phát hiện một số loại nguyên tử của một số nguyên tố nhân tạo cũng có khả năng phóng xạ.

Tia phóng xạ

Dòng tia alpha có thể dễ dàng chặn lại bởi một tờ giấy; tia beta cần miếng kim loại để chặn; còn tia gamma cần một khối vật chất có mật độ dày đặc chặn lại.

Tia phóng xạ theo nghĩa gốc là các dòng hạt chuyển động nhanh phóng ra từ các chất phóng xạ (các chất chứa các hạt nhân nguyên tử không ở trạng thái cân bằng bền). Các hạt phóng ra có thể chuyển động thành dòng định hướng.

Có nhiều loại dòng hạt phát ra từ các chất phóng xạ. Cụ thể:

* Tia alpha: gồm các hạt alpha có điện tích gấp đôi điện tích proton, tốc độ của tia là khoảng 20.000 km/s.
* Tia beta: gồm các electron tự do, tương tự tia âm cực nhưng được phóng ra với vận tốc lớn hơn nhiều, khoảng 100.000 km/s.
* Tia gamma: là dòng các hạt photon, không mang điện tích, có bản chất gần giống ánh sáng nhưng bước sóng nhỏ hơn, chuyển động với tốc độ ánh sáng.
* Dòng các neutron không có điện tích.
* Dòng các hạt neutrino không có điện tích, chuyển động với tốc độ gần bằng tốc độ ánh sáng (phát ra cùng với các hạt beta trong phân rã beta).

Ngoài sự phân rã tự nhiên của các chất phóng xạ, tia phóng xạ cũng còn được quan sát từ các nguồn khác như các lò phản ứng hạt nhân, máy gia tốc hay va chạm của các tia vũ trụ trong khí quyển Trái Đất. Các lò phản ứng hạt nhân có thể tạo ra dòng hạt neutron mạnh. Các máy gia tốc có thể sinh ra dòng các hạt tổ hợp có khối lượng cao hơn. Còn tia vũ trụ có thể sản sinh muon và meson. Thuật ngữ tia phóng xạ cũng có thể mở rộng, để bao gồm các dòng hạt chuyển động nhanh phát ra từ các nguồn này.

Tương tác với vật chất

Các hạt alpha có thể dễ dàng chặn lại bởi một tờ giấy. Tia beta cần miếng kim loại để chặn. Trong khi đó, dòng tia gamma có khả năng xuyên qua vật chất cao; cần một khối vật chất có mật độ dày đặc chặn lại.

Các hạt neutrino hầu như không tương tác với vật chất và có thể xuyên qua tất cả và đi ra ngoài vũ trụ.

Pháp: 100 công nhân nhiễm phóng xạ

Cập nhật: 24/07/2008 – 15:49 – Nguồn:VietNamNet.vn

Phát ngôn viên của công ty điện lực quốc gia Pháp vừa cho biết, các phần tử phóng xạ thoát ra từ đường ống của một lò phản ứng hạt nhân ở miền nam nước này đã làm 100 công nhân bị nhiễm xạ nhẹ hôm 23/7.

Nhà máy điện hạt nhân Tricastin ở Bollene, miền nam nước Pháp (Ảnh: AP)

Đây là sự cố thứ 4 xảy ra tại một cơ sở hạt nhân của Pháp trong vài tuần gần đây và là vụ thứ hai kiểu này trong vòng 5 ngày qua.

Theo Caroline Muller, nữ phát ngôn viên cho công ty điện lực Electricite de France (EDF), 100 công nhân của EDF đã bị nhiễm phóng xạ nhẹ sau sự cố tại lò phản ứng số 4 thuộc khu liên hợp hạt nhân ở Tricastin, miền nam nước Pháp hôm 23/7. Trước đó, cơ sở hạt nhân này đã được đóng cửa để tiếp thêm nhiên liệu.

Bà Muller tiết lộ tất cả các công nhân nhiễm phóng xạ đã trở về nhà và sẽ được kiểm tra sức khỏe ngay lập tức. Phát ngôn viên công ty EDF nhấn mạnh, mức độ nhiễm xạ của những người này rất nhẹ, với liều lượng thấp hơn 1/40 ngưỡng cho phép.

“Điều khiến chúng tôi quan ngại nhiều hơn là số người bị nhiễm xạ, chứ không phải mức độ nhiễm xạ của họ”, bà Muller nói.

Đại diện EDF cho biết thêm rằng các chuyên gia đang tìm hiểu nguyên nhân dẫn tới sự cố tại cơ sở hạt nhân của công ty.

Vụ việc xảy ra một ngày sau khi nhà chức trách Pháp cho dỡ bỏ lệnh cấm đánh bắt cá và chơi các môn thể thao dưới nước tại hai con sông gần một nhà máy thuộc tập đoàn hạt nhân Areva ở Tricastin.

Lệnh cấm đã được áp dụng từ hôm 8/7 sau khi chất lỏng chứa uranium chưa làm giàu bị rò rỉ từ một đường ống ngầm dưới mặt đất tại cơ sở hạt nhân gần thành phố Avignon này.

Hôm 18/7, tập đoàn Areva ra tuyên bố cho biết chất lỏng chứa uranium làm giàu ở mức nhẹ tiếp tục bị rò rỉ tại một cơ sở khác của họ ở đông nam nước Pháp. Cùng ngày, 15 công nhân EDF bị phát hiện đã nhiễm một lượng vô hại các nguyên tố phóng xạ tại nhà máy Alban ở vùng Alpine Isere.

Pháp là nước phụ thuộc vào năng lượng hạt nhân nhất trên thế giới. 59 lò phản ứng của Pháp đã tạo ra gần 80% lượng điện tiêu thụ tại nước này. Sau sự cố rò rỉ phóng xạ đầu tiên, chính phủ Pháp đã ra lệnh kiểm tra nguồn nước ngầm gần tất cả các cơ sở hạt nhân của họ.

Thanh Bình (Theo AP, Xinhua)