Blog Archives

Hai giải pháp giúp giảm thiểu ô nhiễm

Khu liên hợp xử lý rác Nam Sơn hiện đang gây ô nhiễm nặng. Kết quả điều tra về chất lượng nước ngầm xung quanh khu vực này cho thấy hầu hêt nước ngầm ở đây bị nhiễm các chất hữu cơ và nhiễm khuẩn…

Để giải quyết tình trạng này, cần nghiên cứu phổ biến rộng rãi công nghệ chế biến phân compost, bởi đây là một hình thức tái chế rất hữu hiệu các chất thải hữu cơ, không gây ô nhiễm và làm tăng tỷ lệ tận thu các loại chất thải có  thể tái chế được. Mặt khác chế biến phân compost có thể giảm thiểu ô nhiễm không khí và giúp giải quyết vấn đề hiệu ứng nhà kính (khí từ các bãi chôn lấp được tạo thành từ quá trình phân hủy các thành phần hữu cơ trong chất thải có chứa khoảng 50% khí mê tan, một loại khí có khả năng gây hiệu ứng nhà kính mạnh).

Tuy nhiên do nhiều nguyên nhân khác nhau nên việc chế biến phân compost từ chất thải hữu cơ chưa được phổ biến rộng rãi ở nước ta. Có thể kể đến một số nguyên nhân như: nguyên liệu đầu vào chất lượng kém, chất lượng phân hữu cơ chưa cao, tiếp thị sản phẩm còn chưa tốt…

Để góp phần cải thiện tình hình, cần giáo dục nâng cao ý thức cho người dân hiểu việc khi phân loại rác và nâng cao chất lượng phân là vô cùng cần thiết cho một thành phố đang lớn dần về quy mô và dân số. Và cũng chỉ có như vậy mới giải quyết dứt điểm tình trạng ô nhiễm do rác gây ra. Hiện Bộ Khoa học và Công nghệ đang hỗ trợ một chương trình thử nghiệm thực hiện phân loại chất thải tại nguồn đối với chất thải từ các hộ gia đình ở quận Hoàn Kiếm-Hà Nội (chất thải được phân thành 2 loại chính là hữu cơ và vô cơ).

Việc xử lý rác theo kiểu chôn lấp chỉ là giải pháp tạm thời, trong tương lai việc chế biến rác thành phân compost là hướng chính  nhằm góp phần bảo vệ môi trường.

Nguồn : “Báo HNM điện tử”, 24/1/2005

Ruộng đồng nhiễm độc!

Thứ hai, 15 Tháng một 2007, 14:41 GMT+7
Hàng triệu hecta đất nông nghiệp và cả ngàn dòng kênh đang mỗi ngày hứng chịu một khối lượng rất lớn chất độc hại thải ra từ phân hóa học, thuốc bảo vệ thực vật (BVTV) sử dụng trong quá trình canh tác của nhà nông ở đồng bằng sông Cửu Long. Cư dân đồng bằng đang phải chung sống với tình trạng ô nhiễm do mình gây ra.

Chất độc vứt vô tội vạ

Trung tuần tháng 1-2007 chúng tôi về ấp An Bình, xã An Cư (Cái Bè, Tiền Giang). Ở khu vực tổ 4 có khoảng 30ha đất ruộng sản xuất 3 vụ/năm xen đất rẫy canh tác các loại hoa màu. Tại một ruộng dưa hấu tết 2.000m2, trái đã to bằng bắp tay nhưng nhiều dây bị hư vàng úa, anh nông dân tên Dình đang ra sức phun thuốc trừ bệnh, bón phân cho dưa.

Xung quanh ruộng dưa chúng tôi đếm được hàng chục vỏ bao thuốc BVTV đủ mọi nhãn hiệu vứt tứ tung trên bờ và trôi lập lờ dưới dòng kênh nước chảy chậm chạp. Phun hết bình thuốc, Dình thản nhiên xé bao pha bình mới và vỏ bao thuốc được vứt xuống dòng kênh. Xem xét kỹ vỏ các bao thuốc thấy nhãn hiệu nào cũng ghi rõ: “Tránh xa tầm tay trẻ em và tiêu hủy nơi an toàn”, chúng tôi hỏi: “Sao anh không chôn hay đốt bỏ vỏ bao thuốc để tránh độc hại?”, Dình cười vô tư: “Ở đây ai cũng làm vậy, có thấy ai chôn, đốt đâu?”.

Đi một vòng cánh đồng của ấp An Bình, nơi nào cũng thấy vỏ bao thuốc BVTV đủ mọi nhãn hiệu vứt tràn lan trên đồng, dưới rạch. Điều kinh hãi nhất là dòng kênh này là nguồn nước duy nhất chảy qua khu vực tổ 4 ra rạch Ông Ngũ và đổ xuống sông An Cư. Ông Nguyễn Văn Cường, cư dân ấp An Bình, cho biết đã khá lâu người dân trong khu vực không dám sử dụng nước kênh để ăn uống, tắm giặt bởi nguồn nước đã bị ô nhiễm nặng do lượng phân bón, thuốc BVTV tồn dư trên đồng ruộng chảy xuống. “Cách nay vài năm con kênh này còn rất nhiều tôm cá nhưng bây giờ không con gì sống nổi. Nhiều người tắm nước kênh bị ngứa, nổi ghẻ nên không ai dám sử dụng nữa” – ông Cường nói.

Không riêng khu vực ấp An Bình mà bất cứ đâu của vùng nông thôn ĐBSCL cũng dễ dàng bắt gặp vô số chai lọ, bao bì đựng thuốc BVTV đủ loại nhãn hiệu vứt tràn lan khắp nơi. Thạc sĩ

Lê Hữu Hải, trưởng phòng NN&PTNT huyện Cai Lậy, bức xúc: “Tình trạng này rất phổ biến, làm môi trường canh tác (đất đai và nguồn nước) bị nhiễm độc trầm trọng, ảnh hưởng đến vật nuôi cây trồng và sức khỏe con người”.

Ruộng đồng nhiễm độc

Ở cù lao Chợ Mới của tỉnh An Giang, nơi nổi tiếng với nghề trồng rau màu, chuyện đất đai nhiễm độc cũng đang là vấn đề thời sự đối với nông dân. Theo số liệu thống kê của ngành nông nghiệp, từ năm 1995 toàn huyện Chợ Mới đã xây dựng được 76 tiểu vùng đê bao khép kín 23.000ha đất sản xuất nông nghiệp, đưa diện tích gieo trồng lên đến 75.000ha/năm với số vòng quay của đất trung bình gần 4 vụ/năm. Hiện tại nông gia trong huyện đang có xu thế giảm diện tích trồng lúa, tăng diện tích rau màu, bởi lẽ trồng màu có thể thu nhập 300 triệu đồng/ha/năm, vòng quay khai thác đất lên đến 6-7 vụ/năm trong khi còng lưng trồng lúa ba vụ chỉ thu được 42 triệu đồng/ha/năm.

Nhưng cái giá phải trả cho việc bắt đất đai quay 6-7 vòng sản xuất/năm không nhỏ. Ông Lê Thành Măng, chủ 1,4ha đất vừa trồng màu vừa trồng lúa ở ấp Hòa Trung, xã Kiến An, nói với chúng tôi đất đai những năm qua bị con người khai thác quá mức nên nhiễm độc trầm trọng bởi hàm lượng phân hóa học, vật tư nông nghiệp thẩm thấu trong đất rất cao. Ông Măng buồn rầu: “Hồi trước tôi bón 40kg phân/công đất (1.000m2) thu được 30-40 giạ lúa, nay bón 60kg nhưng thu chỉ

20 giạ/công”. Những người trồng rau màu khác, tình cảnh cũng không khá gì. Trong khi đó ở vùng tứ giác Long Xuyên và Đồng Tháp Mười dù năng suất lúa vẫn có thể đạt 18 tấn/ha/năm nhưng tình trạng đất đai nhiễm độc do nông dân lạm dụng phân hóa học, thuốc BVTV cũng đang ở mức báo động đỏ. Nhiều cán bộ ngành nông nghiệp các tỉnh nói trong nhiều yếu tố dẫn đến bệnh vàng lùn, lùn xoắn lá hoành hành trên hàng chục ngàn hecta ruộng lúa ở ĐBSCL trong thời gian qua có một phần do đất đai bị nhiễm độc nặng, không còn màu mỡ, trong lành nên sức đề kháng của cây lúa cũng giảm.

Bó tay với ô nhiễm?

Theo tiến sĩ Nguyễn Hữu Chiếm, trưởng khoa quản lý môi trường và tài nguyên thiên nhiên Đại học Cần Thơ, tình trạng đồng ruộng đang ngày càng nhiễm độc là vấn đề rất đáng quan ngại. Có nhiều yếu tố dẫn đến ruộng đồng bị nhiễm độc, nhưng có thể nói việc các địa phương thi nhau đắp đê bao triệt để trong nhiều năm qua đã làm độ màu mỡ của đất ngày càng giảm, từ đó nông gia ngày càng lạm dụng phân bón hóa học, thuốc BVTV để buộc cây trồng phải cho năng suất cao, ít sâu bệnh là nguyên nhân nổi cộm nhất. Đê bao ngăn sự trao đổi nước tự nhiên để làm sạch môi trường nên cặn bã, độc chất trong quá trình sản xuất nông nghiệp và sinh hoạt của con người bị lắng đọng, tồn lưu trong đất, gây nhiễm độc đất.

Trong khi đó thạc sĩ Lê Hữu Hải cho rằng lâu nay các nhà khoa học, ngành nông nghiệp và chính quyền các địa phương chỉ có thể vận động nông dân ý thức tự giác tiêu hủy bao bì thuốc BVTV và tránh lạm dụng thuốc hóa học để giảm thiểu tác hại đến môi trường sống chứ chưa có bất kỳ biện pháp chế tài nào để xử lý hành vi phát tán bừa bãi chất độc từ thuốc BVTV vào nguồn nước và đồng ruộng nên nhà nông… không sợ.

Theo ông Hải, hiện nay chưa có một nghiên cứu đầy đủ nào để xác định lượng độc chất từ nguồn phân bón hóa học, thuốc BVTV đang tồn lưu trên đồng ruộng các tỉnh ĐBSCL, nhưng có thể nói mức độ ô nhiễm đang rất nghiêm trọng và muốn tẩy rửa sạch cần phải có thời gian rất dài và số tiền rất lớn.

HÙNG ANH
Việt Báo // showsource(“4”); // (Theo_TuoiTre)

PHÂN BÓN HÓA HỌC

Đầu tiên chia ra làm 2 loại : Phân bón đơn và phân bón kép.
1) Phân bón đơn:
a.Phân đạm(chứa N):Phân Urê:CO(NH2)2 chứa 46.67%N
-Phân amoni nitrat NH4NO3(đạm 2 lá)
-Phân amoni clorua NH4Cl
-Phân amoni sunfat (NH4)S04(đạm 1 lá)
b) Phân lân(chứa P):Phân lân tự nhiên Ca3(P04)2
-Phân supe phôphat kép Ca(H2P04)
-Phân supe phôphat đơn Ca(H2P04)2 và CaS04
c) Phân Kali (chứa K) thường dùng là :K2S04,KCl
2) Phân bón kép là loại chứa 2,3 nguyên tố dinh dưỡng trên:
*KN03;(NH4)2,H2P04
Pbk NPK là hh gồm:NH4,N03,Ca(H2P04)2 và KCl
3) Phân vi lượng : B,Zn,Mn

LỢI ÍCH

Nguyên tố N:kích thích cây trồng phát triển mạnh.
Nguyên tố P:kích thích sự phát triển của bộ rễ thực vật.
Nguyên tố K:tổng hợp nên chất diệp lục và kích thích cây trông ra hoa,làm hạt.
Nguyên tố S:tổng hợp nên protein
Nguyên tố Ca,Mg cần cho thự vật để sinh sản chất diệp lục.
Các nguyên tố vi lượng,cây cần rất ít nhưng lại cần thiết cho sự phát triển của cây trồng.

TÁC HẠI:

Nếu dùng quá nhiều phân đạm,lân so với nhu cầu cây trồng sẽ gây ô nhiễm nặng nề nguồn nước sông hồ,nguồn nước ngầm.
Nguồn  http://community.h2vn.com/index.php?PHPS

CTCT, thành phần hóa học, phương pháp sử dụng supe lân

on Dec 18, 2008

CTHH:Ca(H2PO4)2.H2O + CaSO4
-Thành phần:P2O5 chiếm 16-18%(biến động trong phạm vi 14-21%);8-12%S;khoảng 23%CaO;4%H2SO4.Tỷ lệ CaSO4 chiếm 40% trọng lượng cảu phân.
-Tính chất:supe lân chứa lân ở dạng H2PO4- hòa tan trong nước,rất dễ được cây sử dụng.Đây là loại phân bón vừa chúa lân vừa chứa lưu huỳnh đều ở dạng rất dễ tiêu đối với cây.
Phân có độ chua hóa học do có lượng acid trong thành phần,nhưng cũng chứa lượng khá lớn CaO nên tự có tác dụng khử bớt chua.Supe lân có mùi hắc,độ ẩm khá cao,màu xám trắng hay xám sẫm(tùy theo nguyên liệu dùng để ché biến),dạng bột hoặc dạng viên.
-Phương pháp sử dụng:sử dụng tốt nhất trên đất trung tính,nếu bón cho đất quá chua thì phải bón vôi trước để trung hòa độ chua của đất tới khoảng pH=6,5 thì mới phat huy hết hiệu quả của nó.
Có thể dùng để bón lót,bón thúc cho các loại cây trồng,nhuang bón lót vẫn cho hiệu quả cao nhất.Supe lân là loại phân lân duy nhất có thể dùng để bón thúc.
Đối với cây trồng màu nên dùng supe lân viên,đối với đất trồng lúa thì supe lân viên và bột đều cho hiệu quả ngang nhau.
Để nâng cao hiệu quả sử dụng của supe lân ,nên trộn supe lân với phân lân tự nhiên(apatit,phosphorit…),phân chuồng,nước giải trước khi bón cho cây trồng.Bón supe lân cho các loại cây mẫn cảm với S như:cây họ đậu,cây họ thập tự,các loại rau,cây thuốc.Phối hợp sử dụng các loại phân lân supe với phân lân thiên nhiên có thể tạo ra tác dụng tốt nhiều mặt:hòa tan lân khó tiêu trong lân tự nhiên,trung hòa độ chua của supe lân đảm bảo cung cấp lân tốt cho cây.

Sưu tầm

Sóc Trăng: Thay thế phân hóa học bằng phân hữu cơ vi sinh

Ngày cập nhật: 08-04-2009

(HG) – Chi cục Bảo vệ thực vật (BVTV) tỉnh Sóc Trăng cho biết, nhiều nông dân đã biết cách ủ phân hữu cơ với nấm Trichoderma cùng 2 vi khuẩn cố định đạm và hòa tan. Kiểm chứng bón loại phân này từ 2 vụ rau màu vừa qua đạt hiệu quả cao.

Từ tháng 6-2008 đến nay, Chi cục BVTV tỉnh Sóc Trăng đã tiến hành thực hiện 9 mô hình ủ phân hữu cơ vi sinh cho nông dân tại các huyện Mỹ Tú, Mỹ Xuyên, Long Phú, Vĩnh Châu và TP.Sóc Trăng. Nông dân tham gia mô hình đều thừa nhận hiệu quả ứng dụng vào thực tế sản xuất trên rau màu như ớt, dưa leo, khổ qua, dưa hấu… vừa tiết kiệm được chi phí phân bón và thuốc BVTV mà năng suất, hiệu quả đạt cao hơn từ 10-15% so với cách dùng phân hóa học. Sản phẩm đạt chất lượng và đảm bảo an toàn vệ sinh thực phẩm.

*ĐỨC TOÀN