Blog Archives

Tạo ra màu hồng bằng nước lã

Hoá chất: dd NH3 đậm đặc, rượu etylic khan, phenolphtalein
Cách làm: Thêm vài mililit dd amoniac (NH3) đậm đặc (25%) và 2-3 giọt phenolphtalein vào cốc đựng 50 ml rượu etylic khan. Hỗn hợp không có màu.
Khi biểu diễn, bạn nhờ một khán giả nào đó múc một cốc nước lã để pha dần vào hỗn hợp trên. Khi đổ nước màu hồng xuất hiện và càng đổ thêm nước thì màu hồng càng trở nên đậm.
Giải thích: khi đổ thêm nước, NH3 sẽ tác dụng với nước theo phản ứng:


Ion OH- làm cho phenolphtalein chuyển sang màu hồng. Càng đổ thêm nước càng xuất hiện thêm nhiều ion OH-

Theo Những điều kỳ thú của hóa học-Nguyễn Xuân Trường

Advertisements

'Lời nguyền pharaoh' là chất độc trong mộ?


Câu chuyện “lời nguyền của xác ướp” làm xôn xao thế giới sau phát hiện năm 1922 về mộ của Hoàng đế Tutankhamun ở Ai Cập.

Lord Carnarvon, nhà tài trợ người Anh, đã chết ít lâu sau khi tham dự mở hầm mộ, làm dấy lên lời đồn đại rằng nguyên nhân sự việc là những thế lực siêu nhiên. Trong những năm gần đây, một giả thuyết khoa học về cái chết của Carnarvon đã được đưa ra. Phải chăng ông bị chết do tiếp xúc với những mầm bệnh độc hại từ hầm mộ bị đóng kín lâu ngày? Phải chăng chúng đã thử thách quá nhiều hệ miễn dịch của ông, vốn đã bị suy yếu do một căn bệnh kinh niên mà ông mắc phải trước khi tới Ai Cập. “Khi nghĩ về các hầm mộ Ai Cập, bạn sẽ thấy không chỉ có các xác chết, mà còn cả thực phẩm – thịt, rau, và hoa quả được mai táng trong hành trình đến với thế giới bên kia”, Jennifer Wegner, một nhà Ai Cập học tại Bảo tàng Đại học Pennsylvania ở Philadelphia cho biết. “Chắc chắn chúng thu hút côn trùng, vi khuẩn, mốc và những thứ tương tự như vậy. Những vật liệu thô như thế này nằm im ở đó đã hàng nghìn năm”. Các nghiên cứu gần đây trong phòng thí nghiệm đã tiết lộ rằng một vài xác ướp cổ đại quả thực bị mốc, trong đó chứa ít nhất hai loài nguy hiểm tiềm năng – Aspergillus niger và Aspergillus flavus. Những loại nấm mốc này có thể gây ra phản ứng dị ứng nhiều cấp độ, từ sung huyết đến chảy máu phổi. Chúng đặc biệt nguy hiểm đối với những người vốn có hệ miễn dịch kém. Một vài bức tường mộ có thể bị bao phủ bằng loại vi khuẩn phá hoại hệ hô hấp như Pseudomonas và Staphylococcus. Các nhà khoa học cũng tìm thấy khí amoniac, formaldehyde và H2S bên trong quách bịt kín. Ở nồng độ cao, chúng có thể gây bỏng mắt và mũi, làm xuất hiện các triệu chứng giống như viêm phổi và trong những trường hợp nặng, có thể gây chết người. Dơi trú ngụ trong nhiều ngôi mộ đã bị khai quật và phân của chúng mang theo những loại nấm có thể gây bệnh về đường hô hấp giống như bệnh cúm. Trong những điều kiện phù hợp, các tác nhân này có thể đủ độc lực để giết người. Tuy nhiên, các chuyên gia từng điều tra cái chết của Carnarvon tin rằng chất độc trong hầm mộ không liên quan đến cái chết của ông. Ông già Carnarvon từng bị ốm kinh niên trước khi đặt chân vào nơi yên nghỉ của vị hoàng đế. Thêm nữa, ông tử vong vài tháng sau lần tiếp xúc đầu tiên với ngôi mộ. Nếu ông đã tiếp xúc với các tác nhân sinh học ở đó, chúng sẽ phác tác sớm hơn. “Xem xét tình trạng vệ sinh vào thời điểm đó, đặc biệt ở Ai Cập, Lord Carnarvon dường như ở trong mộ còn an toàn hơn bên ngoài”, tiến sĩ F. DeWolfe Miller, giáo sư về dịch tễ học tại Đại học Hawaii ở Manoa nhận định. “Chúng tôi chưa từng biết đến dù chỉ là một trường hợp nhà khảo cổ hoặc khách du lịch nào bị bất kỳ tai họa gì (từ nấm mốc hoặc vi khuẩn trong mộ)”, Miller nói. “Trong những dự án khảo cổ mà tôi từng tham gia, chúng tôi nói chung không đeo mặt nạ hoặc các thiết bị chống độc”, bà giải thích. “Nếu có làm, đó là vì lo ngại hít thở phải bụi chứ không phải là nấm mốc”. “Nếu ai đó có hệ miễn dịch yếu, họ có thể muốn đeo thứ bảo vệ trong mộ, nhưng điều đó cũng xảy ra trong một nhà hàng hoặc bất kỳ nơi nào khác”. Mặc khác, dù nấm mốc và vi khuẩn có mặt trong những ngôi mộ Ai Cập, vẫn không dễ dàng gì để xác định đâu thực sự có nguồn gốc cổ đại. Ngoài ra, dù tất cả các tác nhân có hại này đều hiện diện, thì hầu hết các khu vực khảo cổ, trong đó có cả những ngôi mộ, đều đã được chứng minh là an toàn đối với các nhà khoa học cũng như du khách. Thực tế, lời nguyền thực sự của xác ướp có thể giáng xuống ngôi mộ, chứ không phải với khách du lịch hiện đại ngày nay. “Không thể đếm hết số ví dụ về những ngôi mộ bị con người đầu độc, hơn là các ngôi mộ đầu độc con người”, Miller lý giải. “Việc mở cửa các hầm mộ của những người háo hức muốn thực hiện một khám phá mà không suy nghĩ về phương án bảo tồn chúng có thể khiến cho ngôi mộ đối mặt với sự hư hại nghiêm trọng. Độ ẩm đã khiến cho mốc meo mọc lên trên tường, phá hủy các bức vẽ và những tạo vật khác. Đó là chưa kể những hư hại mà du khách mang tới.

Sưu tầm

TP.Hồ Chí Minh-Vỡ ống dẫn khí amoniac: Người dân "chịu trận" suốt 20 năm qua

Lao Động số 95 Ngày 04/05/2009 Cập nhật: 7:59 AM, 04/05/2009

(LĐ) – Đêm 2.5, người dân tổ 9, khu phố 4, xa lộ Hà Nội, P.An Phú, Q.2 lại một lần nữa phải tháo chạy khỏi nhà do khí amoniac (NH3) thoát ra từ Cty TNHH nước đá An Bình.

Khoảng 19 giờ 30 phút đêm 2.5, người dân khu phố 4, P.An Phú, Q.2 và cả người đi đường trên xa lộ Hà Nội – khi đi ngang qua Cty TNHH nước đá An Bình, số 512A xa lộ Hà Nội, P.An Phú, Q.2 (gần ngã ba Cát Lái) – đã phải liên tục gọi điện đến CS113 – Công an TPHCM, Sở Cảnh sát PCCC, Công an Q.2… để cầu cứu.

Nguyên nhân, các hộ dân tại tổ 9 vừa ăn cơm tối bỗng xộc vào đường hô hấp loại khí nặng mùi, gây cay mắt, khó thở, nôn ói, một số người đi đường khi đi ngang qua nhà máy nước đá này cũng bị ngất do hít phải luồng khí bốc ra. Nhiều người già, trẻ em – đặc biệt là phụ nữ có thai – đã phải bồng bế nhau chạy thoát xa khỏi nhà mình trong đêm, do luồng khí độc lần này thoát ra từ nhà máy nước đá quá lớn so với những lần trước.

PV Báo Lao Động có mặt tại hiện trường và không thể nào tiếp cận vào nhà máy nước đá do luồng khí quá nồng nặc, gây tức ngực và khó thở. Phải dùng khẩu trang tẩm ướt nước lã, chúng tôi mới vào đến trước nhà máy chứng kiến xe chữa cháy dùng vòi rồng phun nước để làm loãng khí độc, hàng chục công nhân nhà máy phải tìm nơi trú ẩn.

Tại hiện trường, nhiều người dân tụ tập trước nhà máy (nhưng đứng xa bên kia đường) phản ánh với PV báo chí, nhà máy nước đá này hoạt động trong khu dân cư suốt 20 năm qua và đã hàng trăm lần làm thoát khí độc. Cứ mỗi lần nhà máy để thoát khí NH3 ra bên ngoài là cuộc sống người dân đảo lộn tứ tung. Người dân đã nhiều lần gửi đơn đến các cấp chính quyền địa phương, song tất cả đều rơi vào im lặng.

Theo điều tra ban đầu của công an, vào đêm 2.5, luồng khí toả ra bên ngoài nhà máy nước đá là do đường ống dẫn khí bị vỡ. Mặc dù được xử lý ngay sau khi sự cố xảy ra, nhưng do áp lực nén rất lớn dẫn đến một lượng khí NH3 thoát ra bên ngoài quá nhiều, khiến khu dân cư và người đi đường hít phải kéo dài gần 2 giờ đồng hồ. Cũng theo phản ánh của người dân, nhà máy này có tháng đã 3 lần làm thoát khí độc ra bên ngoài, gây ô nhiễm môi trường trầm trọng.

  • Phùng Bắc

Cà Mau:Hàng trăm người dân hoảng loạn vì khí amoniac

Thứ Năm, 14/08/2008 – 4:15 PM

Khoảng 17h20 ngày 13/8, hàng trăm người dân ở khóm 3, phường 4, TP Cà Mau bất ngờ ngửi phải mùi khí amoniac nồng nặc.

Ông Đổng Đình Niệm, cán bộ tự quản của khóm 3, khóm 4 – TP Cà Mau cho biết, mùi khí hôi này là do hệ thống cung cấp khí amoniac của nhà máy sản xuất nước đá Thịnh Lợi bị rò rỉ. Sự cố đã làm cho nhiều người già, phụ nữ và trẻ em bị cay mắt, khó thở.

Ngay sau khi xảy ra sự cố, lực lượng Công an phường 4 – TP Cà Mau đã kịp thời có mặt để phối hợp cùng công nhân nhà máy khóa tất cả các van cung cấp khí. Cơ quan chức năng cũng đã cùng đại diện tổ tự quản tiến hành lập biên bản ghi nhận sự cố với sự có mặt của quản đốc nhà máy sản xuất nước đá Thịnh Lợi là ông Phùng Thanh Ngoan.

Theo Công an phường 4, vài tháng trước nhà máy sản xuất nước đá này đã từng gây hoảng loạn cho người dân khi khí amoniac rò rỉ làm cây cỏ xung quanh bị héo khô, nhiều gia đình phải đóng cửa nhà bồng bế trẻ em bỏ chạy. Sau sự cố này, hệ thống cung cấp khí amoniac của Nhà máy sản xuất nước đá Thịnh Lợi đã được sửa chữa. Nhưng chiều qua, một lần nữa người dân phải một phen hoảng loạn.

Người dân ở đây lo lắng nhất là trong khu vực này không chỉ đông dân cư mà còn có một trường học nên nhiều lần đề nghị cơ quan chức năng tìm biện pháp di dời nhà máy sản xuất nước đá đi nơi khác, nhưng vẫn không thấy hồi âm.

  • Theo Hàn Sơn Đỉnh
  • VietNamnet

Bản chất và tác hại của Amoni

Hà Nội Mới – 14/03/2005

Thuật ngữ Amoni bao gồm cả 2 dạng: không ion hoá (NH3) và ion hoá (NH4). Amoni có mặt trong môi trường có nguồn tốc từ các quá trình chuyển hoá, nông nghiệp, công nghiệp và từ sự khử trùng nước bằng cloramin. Lượng Amoni tự nhiên ở trong nước bề mặt và nước ngầm thường thấp hơn 0,2mg/lít. Các nguồn nước hiếm khí có thể có nồng độ Amoni lên đến 3mg/lít.

Việc chăn nuôi gia súc quy mô lớn có thể làm gia tăng ượng Amoni trong nước mặt. Sự nhiễm bẩn Amoni có thể tăng lên do các đoạn nối ống bằng vữa ximăng. Amoni trong nước là một chỉ danh ô nhiễm do chất thải động vật, nước cống và khả năng nhiễm khuẩn. Khi hàm lượng Amoni trong nước ăn uống cao hơn tiêu chuẩn cho phép chứng tỏ nguồn nước đã bị ô nhiễm bởi chất thải động vật, nước cống và có khả năng xuất hiện các loại vi khuẩn, kể cả vi khuẩn gây bệnh.

Lượng Amoni trong môi trường so với sự tổng hợp bên trong cơ thể là không đáng kể. Tác hại của nó chỉ xuất hiện khi tiếp xúc với liều lượng khoảng trên 200mg/kg thể trọng.

Tiêu chuẩn về Amoni trong nước được xây dựng không phải vì tác hại của nó đến sức khoẻ nên không có hướng dẫn dựa trên cơ sở sức khoẻ. Tuy vậy, Amoni làm hại cho quá trình khử trùng nước, nó tạo ra nitrit trong hệ thống phân phối, làm hại quá trình tách loại mangan và gây mùi vị lạ.

Với những lý do trên đây, Amoni được xếp vào nhóm các chỉ tiêu cảm quan (được đánh dấu bằng chữ a trong bảng tiêu chuẩn theo quyết định 1329/2002/BYT-QĐ của Bộ Y tế). Khi Amoni trong nước ăn uống vượt quá tiêu chuẩn cho phép thì chưa ảnh hưởng lắm tới sức khoẻ nhưng đó là dấu hiệu cho thấy nguồn nước bị ô nhiễm bởi chất thải có nguồn gốc động vật và có thể chứa các vi khuẩn gây bệnh.

  • HNM

Công nghệ KRUPP UHDE cho sản xuất Amoniăc

Công nghệ Krupp Uhde là công nghệ sản  xuất amoniăc từ khí thiên nhiên, khí hoá lỏng hoặc naphta. Nếu sửa đổi các thiết bị đầu – cuối một cách thích hợp thì cũng có thể sử dụng các nguyên liệu hyđrocacbon khác, như than, dầu, các loại bã hoặc khí metanol sạch. Trong thời gian từ năm 1990 đến năm 2000 đã có 40 nhà máy áp dụng công nghệ này được đưa vào vận hành, với công suất từ 500 đến 1800 tấn/ngày.

Theo quy trình công nghệ Krupp Uhde, người ta áp dụng phương pháp reforming thông thường bằng hơi nước để sản xuất khí tổng hợp (CO + H2) và chu trình tổng hợp amoniăc với thiết bị trung áp. Nhưng phương pháp này được tối ưu hóa để giảm tiêu thụ năng lượng và tăng độ ổn định vận hành. Nhà máy lớn nhất được xây dựng theo công nghệ Krupp Uhde có công suất 1800 tấn amoniăc/ngày và định mức tiêu hao năng lượng là 6,65 Gcal/ tấn NH3.

Mô tả quy trình:

Nguyên liệu (ví dụ khí thiên nhiên) được tách lưu huỳnh, phối trộn với hơi nước và được chuyển hoá thành khí tổng hợp nhờ xúc tác niken ở áp suất khoảng 40 bar và nhiệt độ 800-850oC. Thiết bị reforming sơ cấp của Krupp Uhde là thiết bị đốt ở phần trên, có các ống được làm bằng thép hợp kim và hệ thống ống xả lạnh để nâng cao độ ổn định vận hành.

Trong thiết bị reforming thứ cấp, không khí công nghệ được đưa vào khí tổng hợp qua hệ thống vòi phun đặc biệt, cho phép phối trộn hoàn hảo hỗn hợp không khí và khí tổng hợp. Công đoạn tạo hơi nước và đun quá nhiệt tiếp theo đảm bảo sử dụng tối đa nhiệt năng của quy trình để đạt hiệu quả năng lượng tối ưu.

Khí CO được chuyển hóa thành CO2 trong các thiết bị chuyển hóa nhiệt độ cao và nhiệt độ thấp với tác dụng của các xúc tác tiêu chuẩn. Khí CO2 được loại bỏ ở thiết bị rửa khí, CO2 dư được chuyển hóa thành metan nhờ phản ứng metan hóa có xúc tác để giảm hàm lượng CO2 dưới mức cho phép.

Chu trình tổng hợp amoniăc sử dụng hai thiết bị chuyển hóa amoniăc với ba tầng xúc tác. Nhiệt thải được sử dụng để sản xuất hơi dùng ở cuối dòng. Thiết bị sản xuất hơi bằng nhiệt thải có bộ phận gia nhiệt sơ bộ nước nạp với các ống làm lạnh đặc biệt để giảm nhiệt độ vỏ xuống mức tối thiểu và giảm ứng suất vật liệu. Bản thân các thiết bị chuyển hóa cũng có những tầng xúc tác hướng tâm với xúc tác sắt hạt nhỏ. Thiết kế dòng chảy xuyên tâm cho phép hạn chế tối đa sự tụt áp trong chu trình tổng hợp và tăng tối đa hiệu suất chuyển hóa amoniăc.

Amoniăc lỏng ngưng tụ và được tách ra khỏi chu trình tổng hợp, sau đó được làm lạnh tiếp xuống dưới nhiệt độ ngưng tụ và đưa vào bể chứa, hoặc được vận chuyển ở nhiệt độ thấp vừa phải tới địa chỉ tiêu thụ.

  • THẾ NGHĨA

Theo Hyđrocarbon Processing, 3/2001

Nỗi lo từ nước ngầm: Tác hại của amôni trong nước cấp

nHà Nội Mới – 29/10/2003
Tài liệu Hướng dẫn về chất lượng nước uống của Tổ chức Y tế thế giới cũng như Tiêu chuẩn 1329/2002 (Bộ Y tế) không coi amôni là chất gây nguy hại cho sức khoẻ con người mà xếp vào nhóm các chất có thể làm người dùng nước than phiền vì lý do cảm quan (mùi , vị).

Vận hành xử lý nước sạch tại Nhà máy nước Cáo Đỉnh (Từ Liêm)

Tuy nhiên, amôni lại là yếu tố gây cản trở trong công nghệ xử lý nước cấp thể hiện ở hai khía cạnh. Thứ nhất, nó làm giảm tác dụng của clo là tác nhân sát trùng chủ yếu áp dụng ở các nhà máy nước (NMN) Việt Nam, do phản ứng với clo tạo thành monocloamin là chất sát trùng thứ cấp hiệu quả kém clo hơn 100 lần. Thứ hai, amôni cùng với một số vi lượng trong nước (hữu cơ, phốt pho, sắt, mangan) là thức ăn để vi khuẩn phát triển, gây hiện tượng không ổn định sinh học của chất lượng nước sau xử lý. Nước có thể bị đục, đóng cặn trong hệ thống dẫn, chứa nước. Nước bị xuống cấp về các yếu tố cảm quan. Đây chính là khía cạnh được giới khoa học các nước phát triển quan tâm nhiều vào những năm 1980-1990 và là cơ sở của phương pháp xử lý – ổn định nước cấp bằng vi khuẩn.

Một hiện tượng nữa cần được quan tâm là khi nồng độ amôni trong nước cao, rất dễ sinh nitrit (NO2). Trong cơ thể động vật, nitrit và nitrat có thể biến thành N – nitroso – là tiền chất có tiềm năng gây ung thư. Mặc dù bằng chứng dịch tễ học chưa đầy đủ về tác hại đối với con người, nhưng Tổ chức Y tế thế giới cũng như Tiêu chuẩn 1329/2002 (Bộ Y tế) đã đề ra mức giới hạn 3 và 50mg/l đối với nitrit và nitrat tương ứng nhằm ngăn ngừa bệnh mất sắc tố máu (methaemoglobinaemia) đối với trẻ sơ sinh dưới 3 tháng tuổi.

Chất lượng và công nghệ xử lý nước hiện hành

Hà Nội là thành phố lớn duy nhất ở Việt Nam hoàn toàn sử dụng nước ngầm làm nguồn nước cấp. Chất lượng nước cấp liên quan chặt chẽ đến chất lượng nước ngầm thô nên các cơ quan hữu trách của TƯ cũng như thành phố đặc biệt quan tâm. Trong những năm 90, ít nhất đã có hai dự án khảo sát đánh giá chất lượng nước ngầm. Đó là đề tài Điều tra, đánh giá và xây dựng phương án bảo vệ nước dưới đất thành phố Hà Nội khỏi bị ô nhiễm và cạn kiệt (1997) và dự án ảnh hưởng quá trình đô thị hoá lên chất lượng nước ngầm thành phố Hà Nội do Cơ quan Nghiên cứu địa chất Anh (British Geological Survey – BGS) cùng Tổng cục Địa chất Việt Nam thực hiện 1996.

Ngoài ra, còn phải kể đến hệ thống các giếng quan trắc quốc gia do Liên đoàn Địa chất thuỷ văn – Địa chất công trình miền Bắc quản lý và Phòng Kiểm tra chất lượng của Cty Kinh doanh nước sạch Hà Nội luôn cung cấp số liệu định kỳ. Tất cả các nguồn số liệu đều khẳng định nhiều vùng nước ngầm nhiễm amôni ở mức độ khác nhau, nặng nhất là phía Nam. Đây cũng là lẽ bình thường vì bản chất của nước ngầm là chứa các chất trong địa tầng có thể tan trong nước, trong đó có amôni là sản phẩm phân huỷ yếm khí các chất hữu cơ mà trong các địa tầng luôn có sẵn, đặc biệt là khu vực phía Nam Hà Nội, nơi có lớp than bùn khá lớn. Tuy nhiên, các nghiên cứu nói trên còn chưa cho phép kết luận rõ ràng là nước ngầm có bị nhiễm các chất thải có nguồn gốc do hoạt động của con người hay không .

Để nói về chất lượng nước cấp Hà Nội cần xem xét công nghệ xử lý nước ngầm. Hệ thống cấp nước Hà Nội là hệ xử lý nước công nghiệp đầu tiên của Việt Nam do người Pháp xây dựng với NMN đầu tiên là NMN Yên Phụ vào năm 1908. Giai đoạn phát triển đột phá là 1980-1990 ứng với các dự án do FINIDA, Cầu JAICA do Chính phủ Phần Lan và Nhật viện trợ. Khi đó, nhận thức về amôni và phương tiện để xử lý nó mặc dù còn hạn chế, nhưng mục tiêu đặt ra là nặng về số lượng, sao cho nhanh chóng nâng công suất và số người được hưởng nước nhà máy. Công nghệ xử lý mới tập trung giải quyết vấn đề sắt, mangan còn amôni chưa xử lý được. Xin lưu ý, những nồng độ amôni cao cỡ 10-20mg/l như phía Nam Hà Nội rất ít gặp đối với các chuyên gia nước ngoài, ngay cả ở Châu Âu họ cũng chỉ có kinh nghiệm xử lý dưới 10mg/l và phải những năm 1980 mới thực hiện tốt. Về vấn đề xử lý amôni, Hà Nội đi tiên phong trong cả nước.

Năm 2000 Sở KHCNMT Hà Nội đã tổ chức đề tài Nghiên cứu xử lý nước ngầm nhiễm bẩn amôni. Đề tài đã được nghiệm thu và năm 2003 đã chuyển thành Dự án pilot chạy thử ở Pháp Vân. Ngoài ra, TT KHTN&CNQG cũng có hai đề tài nghiên cứu xử lý amôni trong nước, một bằng công nghệ hấp phụ và một bằng công nghệ vi sinh, cả hai đề tài đều xử lý tốt amôni ở qui mô nhỏ. Song song phải kể đến Dự án cấp nước 1A đã có hợp đồng tư vấn với Cty Water & Soil để bổ sung thiết kế xử lý amôni cho NMN Nam Dư xây mới. Với hàng loạt cố gắng kể trên, hy vọng trong vài năm tới ngành nước Hà Nội sẽ giải quyết tốt vấn đề amôni.

  • HNM