Blog Archives

Lịch sử phát triển bảng Hệ thống tuần hoàn

Advertisements

LỊCH SỬ ĐẶT TÊN CÁC NGUYÊN TỐ HÓA HỌC

Khi tìm ra một nguyên tố mới, người ta đặt tên nó như thế nào?

Trải qua hàng ngàn năm lịch sử, các nhà khoa học đã trả lời câu hỏi đó bằng nhiều cách khác nhau.

Đa số các nhà khoa học đã chọn tên để tôn vinh một nhân vật, một địa danh hay để mô tả tính chất của một nguyên tố mới. Ngay cả các nguyên tố đã biết từ lâu đời không rõ ai đã tìm ra, nhưng tên của chúng vẫn có ý nghĩa từ nguyên.

Cho đến thời trung cổ, người ta mới chỉ biết có 9 nguyên tố: vàng, bạc, thiếc, thủy ngân, đồng chì, sắt, cacbon và lưu huỳnh.

Tên của các kim loại có nguồn gốc từ tiếng La Tinh mô tả đặc tính của chúng hoặc mang tên nơi khai thác.

  • Aurum (vàng) có nghĩa là buổi bình minh vàng.
  • Argentum (bạc) có nghĩa là “sáng bóng”.
  • Stannum (thiếc) có nghĩa là “dễ nóng chảy”.
  • Hydrorgyrum (thủy ngân) có nghĩa là “nước bạc”.
  • Plumbum (chì) có nghĩa là “nặng”
  • Cuprus (đồng) mang tên vùng Cyprus, nơi có nhiều mỏ đồng. Tên một số nguyên tố, có lẽ bắt nguồn từ chữ Phạn (Sanskrit) có trước chữ La tinh.

Nhiều nước gọi tên nguyên tố theo tiếng nước mình. Chẳng hạn người Angloxacxong cổ gọi thủy ngân là Mercury còn người Pháp gọi là Mercure.

Mercure là tên sao Thủy, đó cũng là tên thần “Tín sứ” trong thần thoại La Mã, là tên thần “Thương mại” trong thần thoại một số nước châu Âu khác. Sao thủy là một vì tinh tú chuyển động nhanh qua bầu trời cũng như thủy ngân là kim loại lỏng duy nhất và “chạy” rất nhanh. Mặt khác, người ta ví nó với thần thương mại nó cũng linh hoạt như các bác lái buôn.

Cho đến thế kỷ 17, hóa học vẫn chưa phải là một khoa học thật sự, nó mới chỉ là một số hiểu biết không định lượng, không có hệ thống. Vì vậy việc đặt tên các nguyên tố mới tìm ra vẫn còn mang tính chất tùy tiện.

  • Chẳng hạn tên nguyên tố Stibi là lấy từ tên chất stibi (Sb2S3) dùng để tô đen lông mày phụ nữ. Tên La tinh của nó là Stibium, nghĩa là “dấu vết để lại”.

Người Pháp gọi nguyên tố này là Antimoine bắt nguồn từ sự kiện sau: Để thử nghiệm tính chất sinh lý của nó, một tu sĩ trong một giáo đường đã trộn stibi vào thức ăn của đồng đạo và nhiều tu sĩ đã lâm nạn. Theo tiếng Pháp thì Anti có nghĩa là phản lại, còn moine có nghĩa là thầy tu.

  • Zinrum (kẽm) bắt nguồn từ tiếng Ba Tư “Seng”, có nghĩa là “đá” và người Đức gọi nó là Zinke.
  • Nguyên tố Asen bắt nguồn từ tiếng Hy Lạp Arsenikos có nghĩa là giống đực bởi vì các nhà giả kim thuật tin rằng kim loại cũng có giống đực, giống cái như các loài sinh vật. Còn người Ba Tư gọi nó là Zarnik có nghĩa là màu vàng.

Năm 1787, Lavoadie (A. Lavoisier), nhà hóa học lỗi lạc người Pháp đã xuất bản cuốn “Danh pháp hóa học” trong đó ông đề nghị nên thống nhất cách đặt tên các nguyên tố hóa học bằng cách dựa vào tính chất của mỗi nguyên tố.

Trong suốt 125 năm sau đó hầu hết các nguyên tố đều được đặt tên ứng với tính chất của chúng. Chẳng hạn một số nguyên tố có tên tiếng Pháp như sau:

  • Hydrogène (Hidro) theo chữ La Tinh Hydros-gen có nghĩa là sinh ra nước (khi đốt khí Hydro).
  • Oxygène (Oxy) theo chữ La Tinh Oksys-gen có nghĩa là sinh ra axit (ở đây Lavodie ngộ nhận axit nào cũng chứa oxi).
  • Brome (Brom) bắt nguồn từ chữ bromos có nghĩa là “hôi, thối”.
  • Argon (agon) bắt nguồn từ chữ A-ergon có nghĩa là “không phản ứng”.

Thật ra, ban đầu Ramsay và Rayleigh – những người tìm ra nguyên tố này đặt tên nó là “Aer” có nghĩa là “từ không khí”.  Nhưng hai ông bị công kích kịch liệt vì tên aeron quá gần với tên Aaron là anh cả của Moise và là đại giáo chủ người Do Thái.

  • Radium theo tiếng La Tinh là “tia” được dùng để đặt tên cho nguyên tố Radi. Radon cũng là một nguyên tố phóng xạ tự nhiên.

Màu sắc của nguyên tố hoặc màu của vạch quang phổ đặc trưng của nguyên tố cũng thường được dùng để biểu thị tính chất của nguyên tố.

Chẳng hạn tên các nguyên tố sau đây có nguồn gốc từ tiếng La Tinh hay Hy Lạp có nghĩa là:

  • Iot (Ioeides) : màu tím.
  • Iriđi (Iris) : cầu vồng (o hợp chất có nhiều màu sắc khác nhau).
  • Xesi (Cesius) : màu xanh da trời.
  • Indi (Indium): màu chàm.
  • Tali (Thalios) : màu xanh lục.

Tuy nhiên trái với những đề nghị của Lavoadie, nhiều nguyên tố vẫn được đặt tên theo các thiên thể, các nhân vật thần thoại, các nhà khoa học, các địa danh đã tìm ra nguyên tố, các quặng, các cây chứa nguyên tố hoặc theo mê tín dị đoan, đôi khi tên nguyên tố còn chứa đựng lịch sử tìm ra chúng.

–         Những nguyên tố mang tên các thiên thể và thiên thần:

  • Heli là Mặt Trời.
  • Telu (Tellurium) là đất.
  • Selen là Mặt Trăng (được tìm ra gần như đồng thời với Telu).
  • Xeri (Cerium) là tên sao Thần Nông.
  • Urani là tên sao Thiên Vương,
  • Neptuni là tên sao Hải Vương.
  • Plutoni là tên sao Diêm vương.

Hai nguyên tố đứng sau Urani là Neptuni và Plutoni được đặt theo tên của hai ngôi sao đứng sau sao Thiên Vương trong thái dương hệ.

  • Prometi đặt theo tên thần Prométheé , vị thần đã ăn trộm lửa thiên của trời cho loài người khai sáng ra nền văn minh đầu tiên của nhân loại.
  • Vanadi là tên của nữ thần Vanadis của các dân tộc Scanđinavơ.
  • Titan là tên thần Titans.
  • Tantan là tên thần Tantalos.
  • Thori là tên thần Thor, thần chiến tranh của người Scanđinavơ.
  • Coban là tên thần Kobold, một vị hung thần làm trở ngại cho việc khai thác mỏ đồng. Những người thợ mỏ còn gọi Coban là “đồng giả hiệu”.

–         Những nguyên tố mang tên quặng, tên cây chứa nguyên tố đó:

  • Kali lần đầu tiên thu được từ cây Salsola Kali. Người ta còn tìm thấy kali trong quặng potat (K2CO3) nên người Pháp và người Anh gọi Kali là Potassium.
  • Natri lần đầu thu được từ quặng Nitrum. Về sau quặng Nitrum được gọi là quặng soda (Na2CO3). Vì vậy người Pháp và người Anh gọi Natri là Sodium.

–         Những nguyên tố mang tên các địa danh. Sau đây  là một số ví dụ:

  • Rutheni gốc tiếng  Latinh là tên nước Nga
  • Gali theo gốc tiếng La tinh là tên cổ của nước Pháp
  • Lutex theo gốc tiếng La Tinh là tên thành phố Paris.
  • Germani theo gốc tiếng La tinh là tên đế quốc Nhật- Nhĩ- Mau.
  • Poloni đặt theo tên tổ quốc Ba Lan (Poland) của bà Mari Sklodowska Curi.
  • Có lẽ làng Ytterbi của đất nước Thụy Điển giữ kỷ lục thế giới vì có tới… 4 nguyên tố mang tên làng ấy. Đó là Ytri, Tebi, Eribi, Ytecbi.

–         Những nguyên tố mang tên các nhà khoa học. Sau đây là một số ví dụ:

  • Curi kí hiệu là Cm. C là chữ cái đầu của Curi, m là chữ cái đầu Marie. Đó là tên vợ chồng nhà bác học Pierre Curie người Pháp và Marie Sklodowska người Ba Lan. Ông bà là “cha mẹ” đã khai sinh cho hai nguyên tố Poloni và Radi và có công đầu khai sáng ra môn phóng  xạ.
  • Ensteni mang tên nhà bác học lỗi lạc A.Einstein người Đức, tác giả thuyết tương đối, có ảnh hưởng sâu sắc đến sự phát triển của vật lý học hiện đại.
  • Nobeli mang tên nhà hóa học Nobel, người Thụy Điển, người đã dành toàn bộ gia sản đặt giải thưởng Nobel.
  • Femi mang tên nhà vật lý học người Ý, người đã chế tạo ra pin Urani (lò phản ứng hạt nhân) đầu tiên năm 1942.
  • Lorenxi mang tên nhà vật lý học người Mỹ- người đã chế tạo ra máy xiclotron – máy gia tốc hình khuyên, gia tốc các hạt nặng mang điện.
  • Mendelevi mang tên nhà hóa học Nga vĩ đại là Mendeleep người đã tìm ra định luật tuần hoàn, kim chỉ nam cho việc nghiên cứu nhiều ngành khoa học.

Đôi khi tên các nguyên tố chứa đựng lịch sử tìm ra chúng.

Chẳng hạn năm 1839, Mosander đặt tên cho nguyên tố ông tách ra được từ hợp chất của Xeri là Lantan. Theo tiếng Hy Lạp thì Lantan có nghĩa là “sống ẩn náu”.

Hai năm sau, cũng từ muối Xeri ông nghĩ rằng mình đã thêm được một nguyên tố nữa và đặt tên là Điđi. Điđi theo tiếng Hy Lạp có nghĩa là “anh em sinh đôi”, bởi vì “không thể tách rời anh em sinh đôi này ra khỏi lantan. Ở đâu có lantan ở đó có Điđi”.

Nhưng đến năm 1885, V.Welsach đã tách Điđi thành hai nguyên tố mới và đặt tên là Neodin và Prazeodin. Theo tiếng Hy Lạp thì Neodin có nghĩa là “anh em  sinh đôi mới” và Prazeodin là “anh em sinh đôi xanh”.

Việc tranh chấp tên các nguyên tố

Hầu hết các nguyên tố được biết hiện nay đều được đặt tên một cách êm thấm. Nhưng đối với một số nguyên tố thì tiếc thay, sự việc lại không diễn ra như vậy. Ta hãy nêu một vài sự việc:

  • Niobi hay Columbi? (nguyên tố số 41)

Năm 1803, Ekeberg tách ra được từ quặng chứa tantan một nguyên tố mới và đặt tên là Niobi bắt nguồn từ chỗ theo thần thoại Hy Lạp thì Niobi là con gái thần tantan.

Nhưng về sau người ta n hận ra rằng Niobi chính là nguyên tố đã được Hatchett phát hiện ra trước đó một năm và ông dự định đặt tên là Columbi. Có điều lý thú là hơn một thế kỷ trước, viên toàn quyền đầu tiên của ban Conecticut (Mỹ) là Winthrop đã gửi về Anh một mẫu quặng và chính từ mẫu quặng đó , hơn 100 năm sau tức là năm 1802 Hatchett đã tách ra được một nguyên tố mới và đề nghị đặt tên là Columbi.

Trong khi ở châu Âu, người ta đã chấp nhận tên Niobi thì ở bên kia Đại Tây Dương, người Mỹ vẫn gọi nguyên tố đó là Columbi.

Cho mãi đến năm 1949, sau hơn 100 năm tranh chấp, tổ chức IUPAC (Hiệp hội quốc tế về hóa học lý thuyết và ứng dụng) đã quyết định nguyên tố thứ 41 chỉ mang một tên duy nhất là Niobi.

  • Nguyên tố 104 mang tên Kusatovi hay Rơdơfodi?

Cuộc tranh chấp về tên của nguyên tố 104 cũng kéo dài nhiều năm. Báo chí Liên Xô (cũ) và các nước Scandinvơ gọi nguyên tố 104 là Kusatovi để tôn vinh nhà bác học Kusatốp – Cha đẻ ra nền nguyên tử học Liên Xô (cũ). Còn báo chí Anh, Mỹ gọi là Rơdơfodi (Rutherfordium) để ghi công nhà bác học Anh là E.Rutherford – người đã tìm ra hạt nhân nguyên tử.

  • Nguyên tố 105 được gọi là Halni hay Ninsbori?

Cũng tương tự như nguyên tố 104, ở một số nước người ta gọi nguyên tố 105 là Halni để tưởng nhớ nhà bác học Đức Otto Haln, người đã đề xướng ra lý thuyết về sự phân rã của Urani. Ở một số nước khác, người ta lại gọi là Ninsbori (Niels-bohrium) để tôn vinh nhà bác học Đan Mạch Niel-Bohr, người có công đặt nền móng cho lý thuyết cấu tạo nguyên tử.

Năm 1978 để tránh những phiền hà trong việc đặt tên các nguyên tố, tổ chức IUPAC đã khuyến cáo rằng, từ nay (ít nhất là trong tình hình lúc bấy giờ) tên các nguyên tố từ 104 trở đi được đặt theo một hệ thống các con số:

nil là 0

un là 1

bi là 2

tri là 3

quad là 4…thêm tiếp vị ngữ ium.

Nguyên tố 104 được gọi là unnilquadium

Nguyên tố 105 được gọi là unnilpentium

Nhiều nhà hóa học đề nghị tổ chức IUPAC xem xét lại quyết định của mình và sẽ cho phép đặt tên các nguyên tố không theo nguyên tắc trên.

Há chẳng phải là một sự xúc phạm đối với các bậc “cha mẹ” đã tìm ra nguyên tố mà không có quyền đặt tên cho “con cái” hay sao?

Tháng 9 năm 1997

Để chấm dứt các  cuốc tranh chấp kéo dài giữa các trung tâm khoa học của các nước (chủ yếu là Hội hóa học Mỹ, phòng thí nghiệm Dubna-Liên Xô cũ và hiện nay là Nga-và trung tâm GSC ở Darmstadt-Đức) giành bằng phát minh và quyền đặt tên cho các nguyên tố mới từ 104 trở đi, vào tháng 8/1997, tại Geneve (Thụy Sĩ), trong một hội nghị gồm các thành viên của hơn 40 nước tham gia, IUPAC đã ra quyết định và được đại đa số cộng đồng thế giới chấp nhận.

  • Nguyên tố 104 đước đặt tên là Rutherfordium kí hiệu là Rf. Nguyên tố này mang tên nhà bác học Rutherford, người đã phát hiện ra hạt nhân nguyên tử. Nguyên tố không còn mang tên Kusatovium (Ku) “cha đẻ” ra nền nguyên tử học Xô Viết mà trước đây Liên Xô và một số nước vẫn dùng.
  • Nguyên tố 105 được đặt tên là Dubnium (Db). Nguyên tố này mang tên địa danh Dubna (Nga) nơi đặt phòng thí nghiệm Dubna). Nguyên tố này không còn mang tên Halni (Ha) hay Nilsbohrium (Ns) mà trước đây một số nước vẫn dùng.
  • Nguyên tố 106 mang tên Seaborgium (Sg). Nguyên tố này mang tên nhà bác học Gleen Seaborg (Mỹ), người lãnh đạo tài ba phòng thí nghiệm Berkeley, nơi đã tổng hợp được hàng loạt các nguyên tố siêu uran.

Đây là trường hợp chưa từng có đối với một nhà khoa học khi còn sống.

  • Nguyên tố 107 Bohrium (Bh). Nguyên tố 107 manh tên nhà bác học Đan Mạch Nils Bohr, người có công đặt nền móng cho lý thuyết cấu tạo nguyên tử.
  • Nguyên tố 108 Hassium (Hs). Nguyên tố mang tên địa danh Hass (Đức), nơi có trung tâm nghiên cứu các nguyên tố siêu nặng.
  • Nguyên tố 109 Meitnerium (Mt). Nguyên tố mang tên nhà bác học Đức Lise Meitner, người cộng tác với Otto Haln trong công trình phản ứng phân chia hạt nhân.
  • Nguyên tố 110-118. Tuy phòng thí nghiệm của một số nước thông báo đã tìm ra nguyên tố 110, 111, 114, 118 nhưng chưa được xác nhận và IUPAC qui định từ nguyên tố 110-118 tạm thời được đặt tên theo hệ thống các con số (như qui định năm 1978).

Như vậy:

  • Nguyên tố 110 được mang tên là Ununnilium, kí hiệu Uun.
  • Nguyên tố 111 được mang tên là Unununium, kí hiệu Uuu.
  • Nguyên tố 112 được mang tên là Ununbiium, kí hiệu Uub.
  • Nguyên tố 113 được mang tên là Ununtriium, kí hiệu Uut.
  • Nguyên tố 114 được mang tên là Ununquadium, kí hiệu Uuq.
  • Nguyên tố 115 được mang tên là Ununpentium, kí hiệu Uup.
  • Nguyên tố 116 được mang tên là Ununhexium, kí hiệu Uuh.
  • Nguyên tố 117 được mang tên là Ununseptium, kí hiệu Uus.
  • Nguyên tố 118 được mang tên là Ununoctium, kí hiệu Uuo.

Hơn 100 nguyên tố hóa học khác nhau, hơn 100 lịch sử phát minh, hơn 100 tên gọi!

Dĩ nhiên là còn nhiều nguyên tố mới sẽ được tổng hợp.

Sự đa dạng về tên các nguyên tố cũng nói lên phần nào lịch sử lâu đời và đầy màu sắc của môn hóa học.

Sưu tầm…(trang 246-257, tài liệu?)

Nguồn gốc tên gọi các nguyên tố hóa học

1. Vàng – Autum(Latinh): Bình minh vàng.
2. Bạc – Argentum(latinh): Sáng bóng.
3. Thiếc – Stanum(Latinh): Dễ nóng chảy.
4. Thuỷ ngân:
-Hydragyrum(Latinh): Nước bạc.
-Mercury(Angloxacxong cổ).
-Mercure(Pháp).
5. Chì – Plumbum: nặng.
6. Stibi:
-Stibium(Latinh): Dấu vết để lại.
-Antimoine(Pháp): Phản lại,thầy tu.
7. Kẽm:
-Seng(Ba tư): Đá.
-Zinke(Đức): Đá.
8. Asen:
-Zarnick(Ba tư): Màu vàng.
-Arsenikos(Hi Lạp): Giống đực.
9. Hiđro – Hidrogenium(Latinh): Sinh ra nước.
10. Oxi – Oxigenium, Oksysgen(Latinh): Sinh ra axit.
11. Brom – Bromos(Latinh): Hôi thối.
12. Argon – Aergon(Latinh) – Argon(Hy Lạp cổ): Không hoạt động.
13. Radium – Radium, Radon: Tia.
14. Iot – Ioeides: Màu tím.
15. Iridi – Iris: cầu vồng.
Irioeides(Hy Lạp):Ngũ sắc
16. Xesi – Cerius: Màu xanh da trời.
17. Tal i- Thallos: Xanh lục.
18. Nitơ:
-Azot(Hi Lạp): Không duy trì sự sống.
-Nitrogenium: Sinh ra diêm tiêu.
19. Heli: Trời.
20. Telu: Đất.
21. Selen: Mặt trăng.
22. Xeri-Cerium: Sao Thần Nông.
23. Urani: Sao Thiên Vương.
24. Neptuni: Sao Hải Vương.
25. Plutoni: Sao Diêm Vương.
26. Vanadi: Tên nữ thấn sắc đẹp Vanadis trong thần thoại cổ Scandinavia.
27. Titan: Tên những người khổng lồ con cái của thần Uran và nữ thần Hea.
28. Ruteni – (Latinh): Tên cổ nước Nga.
29. Gali – (Latinh): Tên cổ nước Pháp.
30. Gecmani – Germany: Tên nước Đức.
31. Curi: Tên nhà nữ bác học Marie Curie.
32. Mendelevi: Tên nhà bác học Mendelev.
33. Nobeli: Tên nhà bác học Anfred Nobel.
34. Fecmi: Tên nhà bác học Fermi.
35. Lorenxi: Tên nhà bác học Lorentz.
36. Lantan – (Hi Lạp): Sống ẩn náu.
37. Neodim – (Hi Lạp): Anh em sinh đôi của Lantan.
38. Prazeodim – (Hi Lạp): Anh em sinh đôi xanh
39. Atatin:
-Astatum(La tinh).
-Astatos(Hy Lạp): Không bền.
40. Bitmut:
-Bismuthum(La tinh).
-(Tiếng Đức cổ): Khối trắng.
41. Bo:
-Borum(La tinh).
-Burac(Ả rập): Borac.
42. Cađimi:
-Cadmium(La tinh).
-Cadmia(Hy Lạp cổ): Các quặng kẽm và kẽm oxit.
43. Canxi:
-Calcium(La tinh).
-Calo: Đá vôi,đá phấn.
45. Clo:
-Chlorum(La tinh).
-Chloas(Hy lạp): Vàng lục.
46. Coban:
-Coballum(La tinh).
-Cobon: Tên từ tên của bọn quỷ Cobon xão quyệt trong các truyện thần thoại.
47. Crom – Croma(Hy Lạp): Màu.
48. Flo-Fluoros(Hy Lạp): Sự phá hoại,sự tiêu diệt.
49. Hafini – Hafnin: Tên thủ đô cũ của Đan Mạch.
50. Iot – Ioeides(Hy Lạp cổ): Tím.
51. Kali – Alkali(Ả rập): Tro.
52. Platin(Tây ban nha): Trắng bạc.
53. Rođi – Rodon(Hy Lạp): Hồng.
54. Osimi – Osmi(Hy Lạp): Mùi.
55. Palađi(Hy Lạp): Thiên văn.
56. Reni – Rhin: Tên sông Ranh(Rhin).
57. Rubiđi – Rubidis: Đỏ thẫm.
58. Scandi: Tên vùng Scandinavia.
59. Silic-Silix: Đá lửa.
60. Stronti – Stronxien(Hy Lạp): Tên làng Strontian ở Scotland.
61. Tali – Thallos: Nhánh cây màu lục.
62. Tantali – Tantale: Tên một nhân vật trong truyện thần thoại Hy Lạp là hoàng đế Tantale.
63. Tecnexi – Technetos(Hy Lạp): Nhân tạo.
64. Kripton: Ẩn.
65. Neon: Mới.
66. Xenon: Da.
67. Rađon: Lấy từ tên gọi Rađi(Rađon là sản phẩm phân rã phóng xạ của Rađi).
68. Liti – Lithos(Hy Lạp): Đá.
69. Molipđen – Molindos: Tên của Chì.
70. Amerixi: Tên châu Mỹ.
71. Beckeli: Tên thành phố Beckeli ở bang Califocnia ở Mỹ.
72. Kursatovi: Tên của nhà bác học I.V.Kursatop.
73. Jolioti: Tên của nhà bác học I.Joliot Curie.
74. Ninbori: Tên của nhà bác học Niels Bohr.
75. Gani: Tên của nhà phát minh ra hiện tượng phân rã của Uran là O.Hanh.
76. Prometi – Prometei: Tên của thần Promete trong thần thoại Hi Lạp.
77. Niken – Nick: Tên của con quỷ lùn lão Nick trong trong những truyền thuyết của thợ mỏ.
78. Niobi – Nioba:Tên con gái của hoàng đế Tantal trong truyện thần thoại đã bị Zeus kết án suốt đời phải chịu sự hành hạ.
79. Thori – Thor:Tên thần Thor trong truyện cổ ở Scandinavia.
80. Einsteinum: Tên nhà bác học Albert Einstein

Trích: olympiavn.org

Những nguyên tố hóa học trong cơ thể con người

Chúng ta được biết hơn 100 nguyên tố hoá học, trong cơ thể con người có nhiều nguyên tố hoá học, chúng có vai trò như thế nào đối với sự phát triển của con người? Sau đây là một vài nguyên tố và vai trò của chúng.
1. Natri (Na)
Natri là kim loại kiềm có rất nhiều và quan trọng trong cơ thể, Natri tồn tại trong cơ thể chủ yếu dưới dạng hòa hợp với clorua, bicacbonat và photphat, một phần kết hợp với axit hữu cơ và protein. Na còn tồn tại ở các gian bào và ở các dịch thể như: máu, bạch huyết… Na được thu nhận vào cơ thể chủ yếu dưới dang muối NaCl. Thường mỗi ngày mỗi người trưởng thành thì cần khoảng 4-5 gram Na tương ứng với 10-12,5 gram muối ăn được đưa vào cơ thể. Đưa nhiều muối Na vào cơ thể là không có lợi. Ở trẻ em trong trường hợp này thân nhiệt bị tăng lên cao người ta gọi là sốt muối. Na được thải ra ngoài theo nước tiểu. Na thải ra theo đường mồ hôi thì không nhiều. Tuy nhiên, khi nhiệt độ của môi trường tăng lên cao thì lượng Na sẽ mất đi theo mồ hôi là rất lớn. Vì vậy, ta nên sử dụng dung dịch NaCl cao hơn để giảm bớt sự bài tiết mồ hôi.

2. Kali (K)

Trong cơ thể, K tồn tại chủ yếu trong các bào và dưới dạng muối clorua và bicacbonat. Cơ là kho dự trữ K, khi thức ăn thiếu K, thì K dự trữ được lấy ra để sử dụng. Muối K thường có trong thức ăn thực vật. Hàm lượng K có cao nhất là trong các mô tuyến, mô thần kinh, mô xương. K được đưa và cơ thể hằng ngày khoảng 2-3 gram chủ yếu theo thức ăn. Trong khoai tây và thức ăn thực vật có nhiều K, lượng K trong máu giảm đi là do tác dụng của thuốc. K mà thải nhiều theo nước tiểu sẽ gây rối loạn các chức năng sinh lý của cơ tim. K có chức năng làm tăng hưng phấn của hệ thần kinh và hoạt động của nhiều hệ enzim.

3. Canxi (Ca)

Ca chiếm khoảng 2% khối lượng của cơ thể. Ca và P chiếm khoảng 65- 70% toàn bộ các chất khoáng của cơ thể. Ca có ảnh hưỏng đến nhiều phản ứng của các enzim trong cơ thể. Ca có vai trò rất quan trọng trong quá trình đông máu và trong hoạt động của hệ cơ và hệ thần kinh nói chung. Ca còn có vai trò quan trọng trong cấu tạo của hệ xương. Ca tồn tại trong cơ thể chủ yếu là dưới dạng muối cacbonat (CaCO3) và photphat (Ca3(PO4)2), một phần nhỏ dưới dạng kết hợp với Protein. Mỗi ngày một người lớn cần khoảng 0,6-0,8 gram Ca. Tuy vậy, lượng Ca có trong thức ăn phải lớn hơn nhiều, vì các muối Ca là rất khó hấp thu qua đường ruột. Do vậy, mỗi ngày trong thức ăn cần phải có khoảng 3-4 gram Ca. Đối với phụ nữ trong thời gian mang thai thì nhu cầu của thai là rất lớn, vì Ca sẽ tham gia vào cấo tạo của xương. Để Ca có thể tham gia vào cấu tạo của hệ xương thì cần phải có đủ một lượng photpho nhất định mà tỷ lệ tối ưu của Ca và P là 1:1,5. Tỷ lệ này có ở trong sữa. Hàm lượng của Ca của cơ thể là tăng theo độ tuổi. Ca thường có trong các loại rau (rau muống, mùng tơi, rau dền, rau ngót…) nhưng hàm lượng là không cao. Các loại thức ăn thuỷ sản có nhiều Ca hơn.

4. Photpho (P)

Photpho chiếm khoảng 1% khối lượng cơ thể. Photpho có các chức năng sinh lý như: cùng với Ca cấu tạo xương, răng, hoá hợp với protein, lipit và gluxit để tham gia cấu tạo tế bào và đặc biệt màng tế bào. Ngoài ra còn tham gia vào các cấu tạo của AND, ARN, ATP… Photpho còn tham gia vào quá trình photphorin hoá trong quá trình hóa học của sự co cơ. Photpho tồn tại trong cơ thể dưới dạng hợp chất vô cơ, với canxi trong hợp chất Ca3(PO4)2 để tham gia vào cấu tạo xương. Photpho được hấp thu trong cơ thể dưới dạng muối Na và K và sẽ được đào thải ra ngoài qua thận và ruột. Nhu cầu photpho hàng ngày của người trưởng thành là 1-2 gram. Phần lớn photpho vào cơ thể được phân bố ở mô xương và mô cơ, bột xương sau đó là bột thịt và bột cá…

5. Clo (Cl)

Clo trong cơ thể chủ yếu ở dạng muối NaCl và một phần ở dạng muối KCl. Cl còn có trong dịch vị ở dạng HCl. Cl được đưa vào cơ thể chủ yếu dưới dạng muối NaCl. Khi cơ thể nhận được nhiều muối ăn thì Cl sẽ được dự trữ dưới da. Cl tham gia vào quá trình cân bằng các ion giữa nội và ngoại bào. Nếu thiếu Cl con vật sẽ kém ăn và nếu thừa Cl thì có thể gây độc cho cơ thể. Bổ sung Cl cho cơ thể chủ yếu dưới dạng muối NaCl. Mỗi ngày mỗi người cần khoảng 10–12,5 gram NaCl…

6. Lưu huỳnh (S)

Lưu huỳnh chiếm khoảng 0,25% khối lượng cơ thể. S có trong cơ thể chủ yếu có trong các axit amin như: Sistein, metionin. S có tác dụng là để hình thành lông, tóc và móng. Sản phẩm trao đổi của S là sunfat có tác dụng trong việc giải độc. S được cung cấp một phần là do ở dạng hữu cơ nhất là protein cung cấp cho cơ thể.

7. Magie (Mg)

Mg chiếm khoảng 0,05% khối lượng cơ thể và tồn tại ở xương dưới dạng Mg3(PO4)2 có trong tất cả các tế bào của cơ thể. Mg có tác dụng sinh lý là ức chế các phản ứng thần kinh và cơ. Nếu trong thức ăn hằng ngày mà thiếu Mg thì cơ thể có thể bị mắc bệnh co giật. Mg còn cần cho các enzim trong quá trình trao đổi chất, thúc đẩy sự canxi hoá để tạo thành photphat canxi và magie trong xương và răng. Mg được cung cấp nhiều trong thức ăn thực vật, động vật.

8. Sắt (Fe)

Hàm lượng Fe trong cơ thể là rất ít, chiếm khoảng 0,004% được phân bố ở nhiều loại tế bào của cơ thể. Sắt là nguyên tố vi lượng tham gia vào cấu tạo thành phần Hemoglobin của hồng cầu, myoglobin của cơ vân và các sắc tố hô hấp ở mô bào và trong các enzim như: catalaz, peroxidaza… Fe là thành phần quan trọng của nhân tế bào. Cơ thể thiếu Fe sẽ bị thiếu máu nhất là phụ nữ có thai và trẻ em.

Trong cơ thể Fe được hấp thu ở ống tiêu hoá dưới dạng vô cơ nhưng phần lớn dưới dạng hữu cơ với các chất dinh dưỡng của thức ăn. Nhu cầu hằng ngày của mỗi người là từ khoảng 10-30 miligram. Nguồn Fe có nhiều trong thịt, rau, quả, lòng đỏ trứng, đậu đũa, mận…

9. Đồng (Cu)

Đồng có trong tất cả các cơ quan trong cơ thể, nhưng nhiều nhất là ở gan. Đồng có nhiều chức năng sinh lý quan trọng chủ yếu cho sự phát triển của cơ thể như: thúc đẩy sự hấp thu và sử dụng sắt để tạo thành Hemoglobin của hồng cầu. Nếu thiếu đồng trao đổi sắt cũng sẽ bị ảnh hưởng, nên sẽ bị thiếu máu và sinh trưởng chậm… Đồng tham gia thành phần cấu tạo của nhiều loại enzim có liên quan chặt chẽ đến quá trình hô hấp của cơ thể. Đồng tham gia vào thành phần của sắc tố màu đen. Nếu thiếu đồng thì da sẽ bị nhợt nhạt, lông mất màu đen… Nhu cầu của cơ thể với đồng ít hơn sắt nhưng không thể thiếu đồng tới hoạt động của hệ thần kinh và các hoạt động khác của cơ thể…

10. Coban (Co)

Coban có chức năng là kích thích sự tạo máu ở tuỷ xương. Nếu thiếu Coban sẽ dẫn tới là thiếu vitamin B12 và dẫn đến thiếu máu ác tính, chán ăn suy nhược cơ thể…

11. Iot (I)

Hàm lượng Iot trong cơ thể là rất ít. Iot chủ yếu là trong tuyến giáp tràng của cơ thể. Iot được hấp thu vào cơ thể chủ yếu ở ruột non và màng nhầy của cơ quan hấp thu. Iot có chức năng sinh lý chủ yếu là tham gia vào cấu tạo hoocmon thyroxin của tuyến giáp trạng. Nếu cơ thể thiếu Iot có thể dẫn đến bệnh bướu cổ (nhược năng tuyến giáp)… Nguyên nhân của bệnh bướu cổ là do thiếu Iot trong thức ăn và nước uống hằng ngày. Vì vậy, cần phải bổ sung Iôt hằng ngày qua muối, rong biển, cá biển…

12. Magan (Mn)

Magan là chất có tác dụng kích thích của nhiều loại enzim trong cơ thể, có tác dụng đến sự sản sinh tế bào sinh dục, đến trao đổi chất Ca và P trong cấu tạo xương. Thức ăn cho trẻ em nếu thiếu Mn thì hàm lượng enzim phophotaza trong máu và xương sẽ bị giảm xuống nên ảnh hưởng đến cốt hoá của xương, biến dạng… Thiếu Mn còn có thể gây ra rối loạn về thần kinh như bại liệt, co giật…

Còn rất nhiều nguyên tố hoá học trong cơ thể con người, và vai trò của chúng khác nhau ở từng độ tuổi, hàm lượng các nguyên tố. Nhưng chúng có vai trò quan trọng trong quá trình sinh trưởng và phát triển của con người.

Những nguyên tố vi lượng trong ta:

Liti 0,0001% Máu, tế bào và các cơ quan đặc biệt là bắp thịt.

Bo 0,00001% Máu, mô mỡ

Nhôm 0,00001% Mô và các dịch, trong lớp vỏ của các tế bào thần kinh, tập trung nhất ở huyết thanh, gan, tuyến nội tiết.

Titan 0,00001% Ti tham gia vào quá trình miễn dịch.

Vanadi 0,00001% Các loại men xúc tác cho những phản ứng oxi hóa khử

Crom 0,00001% Các loại men, đặc biệt là men pepsin. Thiếu crom sẽ chậm phát triển, kém mắt. Rối loạn trao đổi crom dẫn đến bệnh tiểu đường.

Niken 0,000001% Có trong men. Có tác dụng kích thích sự tổng hợp các aminoaxit

Selen 0,0000001% Có trong võng mạc, trong sắc tố tế bào. Tham gia các phản ứng oxi hóa sinh học trong cơ thể.

Stronti 0,001% Có trong xương. Đóng vai trò quan trọng trong sinh lí mô xương.

Asen 0,00001% Cần để tổng hợp hemoglobin nhưng không chứ trong chất này. Ngoài ra còn tham gia quá trình oxi hóa và trao đổi nucleic.

Cadimi 0,0001% Có trong gan dưới dạng phức của protit. Cần cho quá trình tổng hợp hidratcacbon và một số phản ứng men.

Thiếc 0,0001% Có trong axit nucleic, tham gia vào sự phát triển của cơ thể

Bari 0,0001% Chứa nhiều trong võng mạc

Vonfram 0,000001-0,0000001 % Não, gan và xương.


Hầu hết cơ thể con người được tạo ra từ nước, H2O, Trong mỗi tế bào nước chiếm khoảng 65-90% theo trọng lượng. Vì thế, không đáng ngạc nhiên rằng hầu hết khối lượng của cơ thể chúng ta là oxi. Carbon, thành phần cơ bản của các phân tử hữu cơ, là nguyên tố đứng thứ hai sau oxi. Gần như toàn bộ khối lượng (99%) của cơ thể con người được tạo thành từ sáu nguyên tố: oxi, carbon, hydro, nitơ, canxi, và phốt pho.
Sau đây là tỉ lệ phần trăm các nguyên tố trong cơ thể chúng ta:

1. Oxy (65%)
2. Carbon (18,6%)
3. Hydro (9,7%)
4. Nitơ (3,2%)
5. Canxi (1,8%)
6. Phốt pho (1.0%)
7. Kali (0,4%)
8. Natri (0,2%)
9. Clo (0,2%)
10. Magiê (0,06%)
11. Lưu huỳnh (0,04%)
12. Đồng, Kẽm, Selen, Molybđen, Flo, Iot, Mangan, Coban, Sắt (0,70%)
13. Liti, Stronti, Nhôm, Silic, Chì, Vanadi, Arsen, Brom (rất ít)

Theo forum.hoahoc.org