Blog Archives

Chuyển giao công nghệ làm giấy từ… rơm rạ, bã mía

Ngày 17/7/2008 tại TP.HCM, Siêu thị công nghệ công nghệ (Vinatech) cùng tập đoàn Taise và Ohhara (Nhật Bản) kí kết hợp tác chuyển giao công nghệ sản xuất bột giấy phi gỗ của Nhật Bản trị giá 50 tỷ đồng.

Với công suất từ 15-30 tấn/ngày, dây chuyền nói trên cho phép sản xuất bột giấy từ nguyên liệu phi gỗ như các loại nhánh keo lai hom, nhánh cây tràm, nhánh bạch đàn và thậm chí là từ rơm rạ hay bã mía.

Nếu đem so sánh với việc sản xuất bột giấy từ gỗ thì phương pháp phi gỗ được đánh giá khá cao bởi nó cho phép tận dụng đựoc thế mạnh nguyên liệu sẵn có của Việt Nam. Nguyên liệu này một phần là do có sẵn, một phần có thể nhờ trồng canh tác ngắn ngày.

Đại diện Việt Nam và Nhật Bản tại lễ kí kết hợp tác. (Ảnh: Mai Linh)

Do không phải phá rừng lấy nguyên liệu nên công nghệ sản xuất bột giấy từ nguyên liệu phi gỗ là giải pháp tận dụng nguyên liệu, giúp hạn chế gây ô nhiễm môi trường. Nói vậy là bởi: Khi đốt sản phẩm từ cây trồng, hoặc sản phẩm mọc lên từ việc hấp thụ khí các bonnic và thải ra oxi, chúng sẽ sinh ra một lượng carbonnic tương đương với khí hấp thụ, khiến cho tổng lượng khí cacbonnic trong môi trường không thay đổi.

Bên cạnh đó, việc sử dụng dây chuyền sản xuất bột giấy cao cấp từ nguyên liệu phi gỗ ở quy mô công suất nhỏ vẫn cho phép lắp đặt rải rác theo địa phương, tuỳ theo các vùng nguyên liệu. Đầu ra sản phẩm là bột giấy chất lượng cao, cung cấp cho thị trường trong nước và Nhật Bản.

Phát biểu tại lễ kí kết, ông Vũ Ngọc Bảo, Tổng thư kí Hiệp hội giấy VN (VPPA) cho biết, ông rất hy vọng công nghệ sản xuất bột giấy của Nhật Bản sẽ phù hợp với điều kiện nguyên liệu của Việt Nam. Bởi hiện nay, việc đầu tư phát triển nguyên liệu bột giấy trong nước chưa đáp ứng nhu cầu sử dụng. Hiện, Việt Nam vẫn phải nhập khẩu khoảng 60% bột sản xuất giấy theo phương pháp hoá học. Sự phát triển của ngành giấy hiện đang bị mất cân đối giữa bột và giấy bởi từ lâu chúng ta không triển khai được việc sản cuất dự án bột.

Dây chuyền sản xuất bột gỗ của Nhật từ nguyên liệu phi gỗ gồm:
1. Máy nghiền tinh hai đĩa DDR, với hai bộ làm tinh mang đến năng suất cao gấp 2 lần trên cùng 1 loại chấn đế máy có thể giảm tối đa mức độ ma sát và tiếp xúc giữa các bộ phận kim loại xảy ra trong những hoạt động tải năng.2. Máy lọc bột giấy giúp loại bỏ tạp chất một cách nhanh nhất.
3. Máy lọc thứ cấp (xử lý phần bị loại) cho kết quả sàng lọc tốt hơn hiệu quả gấp 4-5 lần so với máy sàng rung truyền thống. Thiết bị này tương đối gọn nhẹ và được chứng nhận là tối thiểu ô nhiễm khu vực hoạt động.
4. Máy làm sạch nồng độ cao có khả năng loại bỏ cực tốt kim loại, cát và những tạp chất khác trong bột giấy. Ngoài ra, nó còn giúp cho việc liên tục loại bỏ những vật lạ ngay cả với một lượng nước cân bằng để làm sạch tối thiểu. Đặc biệt, với thiết kế phần xả cuối giúp loại bỏ ngay cả những hạt cát nhỏ nhất ở nồng độ là 1.0-1.5%
5. Máy nghiền chính được thiết kế giúp cho việc bảo tồn năng lượng, đảm bảo hiệu quả nghiền và tiết kiệm chi phí trong sản xuất với khả năng nghiền nguyên liệu cấp thấp mà không làm hỏng sợi bột.
6. Máy lọc dạng trống giúp kéo dài thời gian lưu bột bên trong và nồng độ bột ra ổn định khiến quá tình xử lý bột không bị dính lại do đó nồng độ bột đầu ra không ảnh hưởng đến bột.

Theo Mai Linh – VietNamNet

Advertisements

10 công nghệ thân thiện môi trường

66 10 công nghệ thân thiện môi trường

Nguồn lấy từ http://gogreen.com.vn

Con người có thể có cuộc sống bền vững trên hành tinh nếu như biết hạn chế sự lãng phí năng lượng, nguồn nước; lạm dụng tài nguyên; hạn chế gây ra tình trạng thay đổi khí hậu toàn cầu và nạn chặt phá rừng…

Dự tính đến năm 2025, dân số thế giới sẽ có thêm 2,9 tỷ người góp phần làm cạn kiệt nguồn nước và đến năm 2030 nhu cầu năng lượng của Thế giới sẽ tăng lên 60%… Phát minh nào giúp hành tinh tiếp tục phát triển bền vững?

Dưới đây là 10 sản phẩm công nghệ thân thiện với môi trường do trang web “LiveScience.com” giới thiệu. Chúng có thể giúp cho tương lai tươi sáng hơn.

1. Giấy báo tái sử dụng

Đó là giấy điện tử, một màn hình linh hoạt trông giống như giấy, nhưng có thể tái sử dụng nhiều lần. Màn hình này bao gồm nhiều hạt capsule siêu nhỏ chứa các phần tử mang điện được bao bởi một phôi kim loại. Mỗi capsule siêu nhỏ có các hạt trắng và đen mang điện dương hoặc âm. Tùy thuộc điện âm hay dương, mà hạt đen hoặc trắng hiển thị trên bề mặt màn hình những mẫu khác nhau.

Chỉ tính riêng ở Mỹ, hơn 55 triệu tờ báo như vậy có thể được bán trong mỗi ngày.

2. Chôn lấp các chất gây ô nhiễm

Khí CO2 là yếu tố chính gây nên hiệu ứng nhà kính và làm trái đất nóng lên. Theo một số chuyên gia, chúng ta không thể hạn chế lượng khí thải CO2 phát tán vào khí quyển và mà phải tìm cách loại bỏ nó. Người ta đã đề xuất phương án chôn các khí trên xuống đất trước khi chúng kịp bay vào khí quyển. Sau khi tách riêng CO2 ra khỏi những khí thải khác, có thể chôn nó trong những giếng dầu cạn, mỏ muối và trong các vách đá trong lòng đất.

3. Làm sạch không khí bằng cây xanh và vi khuẩn

Phương pháp “Bioremediation” có thể dùng vi khuẩn và cây cối để dọn sạch ô nhiễm. Ví dụ loại bỏ nitrat trong nước bằng vi khuẩn và dùng cây để hút thạch tín trong đất thông qua quá trình có tên là “phytoremediation”. Cơ quan bảo vệ môi trường Mỹ đã thí điểm dùng quy trình này.

Thường thì các loài cây bản địa có thể dùng để làm sạch ô nhiễm và hơn thế, hầu như chúng không cần phun thuốc trừ sâu hay tưới nước. Ởã một số loài khác, các nhà khoa học cố gắng thay đổi di truyền học để chúng có thể dùng rễ hút các chất gây ô nhiễm và dùng những chất này để nuôi dưỡng sự phát triển của cây.

4. Trồng cây trên mái nhà

Vườn trên mái nhà giúp hấp thụ hơi nóng, hút nước mưa, giảm việc sử dụng điều hòa vào mùa hè và giảm ảnh hưởng của CO2 bằng cách hút khí CO2 và nhả ra ôxy. Công nghệ này có thể làm giảm ảnh hưởng “đảo nhiệt” thường xảy ra ở trung tâm dân cư.

5. Khai thác năng lượng từ biển

Đại dương chiếm hơn 70% bề mặt trái đất. Trong đó, sóng biển mang trong mình nó năng lượng dồi dào có thể làm các tua-bin hoạt động và biến năng lượng cơ học thành điện năng. Tuy nhiên nó có trở ngại là đôi khi các con sóng quá nhỏ để sản xuất đủ năng lượng cần thiết. Yêu cầu đặt ra là phải có cách tích lũy khi năng lượng cơ học được sinh ra đủ. Ở New York, Mỹ, người ta đang thử nghiệm phương pháp này tại con sông phía Đông thành phố với 6 tua-bin chạy bằng năng lượng thủy triều. Tại trường Đại học bang Oregon, các nhà khoa học đã thiết kế một hệ thống phao có khả năng thu năng lượng sóng đại dương đủ cung cấp cho hơn 1.500 gia đình.

6. Chuyển đổi năng lượng nhiệt đại dương

Thiết bị có thể thu nhiều năng lượng mặt trời nhất chính là đại dương. Theo Bộ Năng lượng Mỹ, mỗi ngày các đại dương thu nhiệt từ mặt trời đủ bằng năng lượng chứa trong 250 tỷ thùng dầu. Công nghệ OTEC đã biến đổi năng lượng nhiệt có trong đại dương thành điện bằng cách lợi dụng sự chênh lệch nhiệt độ giữa bề mặt nước. Sự khác biệt về nhiệt độ có thể vận hành tua-bin, làm chạy các máy phát điện.

7. Khai thác năng lượng mặt trời

Năng lượng mặt trời chiếu tới trái đất dưới dạng các photon và có thể chuyển thành điện hoặc nhiệt. Những thiết bị thu năng lượng mặt trời có nhiều dạng khác nhau và đã được các công ty năng lượng và hộ gia đình dùng thành công. Hai loại máy được biết đến rộng rãi nhất là thiết bị thu nhiệt và pin mặt trời. Các nhà khoa học đang cố biến đổi loại năng lượng này có hiệu quả hơn bằng cách một hệ thống gương parabol tích tụ chúng lại. Bang California, Mỹ, đã ủng hộ một chương trình toàn diện khuyến khích phát triển sử dụng năng lượng mặt trời.

8. Năng lượng “Hydro”

Sử dụng pin năng lượng hydro được coi như một giải pháp thay thế cho xăng, dầu và không gây ô nhiễm môi trường.

Điện sinh ra trong quá trình kết hợp hydro và ôxy tạo ra nước. Nhưng pin thu được phải có hydro. Như vậy, các phân tử như nước và rượu phải được xử lý để chiết xuất ra hydro cung cấp cho pin nhiên liệu. Một số quá trình yêu cầu cần sử dụng những nguồn năng lượng khác, do đó phá hỏng ưu thế của loại “nhiên liệu sạch” này. Gần đây các nhà khoa học đang nghiên cứu các phương pháp nạp năng lượng cho máy tính xách tay và các thiết bị nhỏ bằng pin nhiên liệu. Một số công ty cũng hứa hẹn sẽ sớm ra mắt loại xe chỉ thải nước sạch. Tương lai về một “nền kinh tế hydro” là hoàn toàn khả thi.

9. Loại muối trong nước biển

Khử muối và các chất khoáng ra khỏi nước biển, là một trong những cách cung cấp nước “ngọt” sử dụng cho nhiều nơi trên thế giới mà hiện nay nguồn nước còn hạn chế. Các nhà khoa học đang hướng tới những quy trình tiến bộ hơn, dùng những nhiên liệu rẻ tiền có thể tạo nhiệt ẩm bay hơi nước, trước khi lọc nó qua màng lọc cực nhỏ.

10. Biến rác thải thành dầu

Bất kỳ rác thải hữu cơ nào, dưới nhiệt độ và áp suất vừa đủ đều có thể biến thành dầu thông qua quá trình phân hóa bằng nhiệt. Quá trình này cũng tương tự như cách tạo ra dầu trong tự nhiên. Những người đề xướng chương trình này khẳng định một tấn chất thải hữu cơ có thể sản xuất được khoảng 600 pound dầu tự nhiên.

Theo nea

Tạo ra những thước phim về phân tử

Những phân tử sinh học và hữu cơ trong dung dịch có độ phức hợp cao hơn nhiều so với các cấu trúc tinh thể tiêu chuẩn của muối hoặc kim loại, vì chúng thường xuyên chuyển động và thay đổi theo thời gian . Những chuyển động này vẫn còn chưa nhìn thấy được một cách trực tiếp, nhưng các nhà khoa học khi sử dụng những tia X cường độ mạnh ở Nguồn Photon Tiên tiến đã đo được những hình ảnh mà bị “nhòa đi” bởi những chuyển động đó và đã sử dụng chúng để tạo ra những thước phim chính xác hơn về các chuyển động phân tử.

Những mô phỏng trên máy tính là cách duy nhất hiện nay để hiển thị hóa những chuyển động phân tử ở trong dung dịch, nhưng các nhà nghiên cứu vẫn còn chưa có phương tiện để kiểm tra độ chính xác của những mô phỏng đó đối với những phân tử phức hợp. Lần đầu tiên các nhà khoa học đã có được khả năng nhìn thấy trực tiếp những chuyển động của phân tử và so sánh chúng với những chuyển động mà họ đã vẽ ra được bằng lý thuyết.

“Hiện tượng nhòa mà ta thấy ở trong những mô thức tia X của dung dịch là cực kỳ nhạy đối với loại hình chuển động của phân tử”, nhà hóa học cao cấp, David Tiede, nói. “Lần đầu tiên chúng tôi đã có được khả năng kiểm nghiệm được độ chính xác của mô phỏng và thay đổi nó để phù hợp hơn với dữ liệu. Không có phương tiện này, chúng tôi không thể biết được những mô hình đó chính xác tới đâu”.

Tiede hy vọng độ chính xác được cải thiện của các mô hình phân tử sẽ đem lại sự hiểu biết tốt hơn về cấu trúc và hành vi của các phân. Các cộng tác viên ở Viện Y tế Quốc gia đã sử dụng cách tiếp cận này để giúp xác địng cấu trúc của những phân tử sinh học quan trọng.

Tiede và các cộng sự cũng dự kiến xem xét các thức cấu trúc phân tử phản ứng với một kích thích bên ngòai. Bằng cách sử dụng tia laser để kích thích các nguyên tử, ông sẽ tạo ra một thước phim cho thấy cách thức phân tử đó phản ứng với tia laser ban đầu, và cũng cho thấy cách thức nó trở lại trạng thái ổn định.

“Chúng tô hy vọng xác định được giữa những diễn viên tốt và dở ở trong những quá trình hóa học quan trọng, chẳng hạn như quang hợp, năng lượng mặt trời và các xúc tác” Tiede nói. “Một khi ta thấy được, ta sẽ tìm ra cách để những quá trình đó diễn ra tốt hơn”.

NACESTI (Theo DOE/Argonne National Laboratory, 4/2008)

http://www.vista.gov.vn/pls/portal/PORTAL.wwv_media.show?p_id=460428&p_settingssetid=1&p_settingssiteid=33&p_siteid=33&p_type=basetext&p_textid=460429

Cycloparaphenylen dùng cho chế tạo các ống nano hiệu quả hơn

Tuy nhiên, hiện nay việc sản xuất công nghiệp các ống nano còn gặp phải trở ngại: Người ta không biết sản xuất chúng với lượng thế nào là đủ và làm sao để sản xuất chúng một cách có kiểm soát. Hiện có nhiều loại ống nano và theo cấu trúc của chúng thì chúng có thể là bán dẫn, kim loại, đơn vách hoặc đa vách. Cho dù có được phương pháp sản xuất chúng để phân loại các các dạng ống nano này, thì cũng chưa đủ để biến chúng từ phòng thí nghiệm ra được khu vực công nghiệp, mà hiện chỉ trong các bộ nhớ máy tính.

Thế nhưng, mới đây tại Phòng Thí nghiệm Quốc gia Lawrence Berkeley, Ramesh Jasti và các đồng nghiệp đã phát triển được một loại ống phân tử benzen, có thể được coi như “viên gạch” cơ sở cho hình thành một loại ống nano đơn vách. Việc tổng hợp loại phân tử này được chứng minh là có thể về mặt lý thuyết cách đây 70 năm: đó là Cycloparaphenylen. Tuy nhiên phải đợi đến ngày nay, từ loại phân tử này người ta mới tìm ra cách sản xuất được ống nano các bon một cách có kiểm soát. Theo các nhà nghiên cứu thì họ có thể sản xuất với số lượng lớn chỉ riêng một loại ống nano này. Mục đích cuối cùng của nhóm nghiên cứu là chế tạo được các ống nano đạt 99% cùng loại.

NACESTI (theo http://www.bulletins-electroniques.com/actualites/57365.htm)

Nhôm trong suốt thể hiện "trạng thái vật chất mới"

Nhóm nghiên cứu cho biết, một xung ngắn của tia lade FLASH đã “hạ gục” một electron lõi từ mỗi nguyên tử nhôm trong một mẫu vật mà không làm hỏng cấu trúc tinh thể của kim loại. Việc này biến miếng nhôm thành gần như vô hình dưới bức xạ tử ngoại cực độ.

Nhóm nghiên cứu cho biết, nhôm trong suốt chỉ là điểm khởi đầu. Các tính chất vật lý của vật chất mà họ tạo ra rất thích hợp với các điều kiện bên trong các hành tinh lớn. Nhóm nghiên cứu hi vọng bằng cách nghiên cứu vật liệu mới này, họ có thể hiểu rõ hơn về quá trình tạo ra các “ngôi sao nhỏ”, được tạo ra bằng các vụ nổ lade năng lượng cao, và một ngày nào đó sẽ cho phép tạo ra năng lượng của tổng hợp hạt nhân ngay trên mặt đất.

Khám phá này được thực hiện nhờ sự phát triển của một nguồn bức xạ mới sáng gấp 10 tỷ lần so với bất cứ một nguồn synchrotron nào trên thế giới (ví dụ như Nguồn Sáng kim cương của nước Anh). Tia lade FLASH, đặt tại Hamburg, Đức, phát ra các xung tia X nhẹ cực ngắn, mỗi một xung có công suất mạnh hơn đầu ra của một nhà máy điện cung cấp điện cho cả một thành phố.

Nhóm nghiên cứu Oxford, cùng với các đồng nghiệp quốc tế, đã tập trung tất cả năng lượng này xuống một điểm có đường kính chưa tới một phần 20 độ dày của một sợi tóc người. Ở cường độ cao như vậy, điểm nhôm này trở thành trong suốt. Mặc dù hiệu ứng trong suốt kéo dài chỉ trong một khoảng cực ngắn, ước tính 40 femto giây, nhưng nó đã chứng tỏ rằng trạng thái vật chất kỳ lạ như vậy có thể được tạo ra bằng cách sử dụng các nguồn tia X năng lượng cực cao.

NACESTI (Theo Sciencedaily, 27/7/2009)

http://www.vista.gov.vn/pls/portal/PORTAL.wwv_media.show?p_id=557796&p_settingssetid=1&p_settingssiteid=33&p_siteid=33&p_type=basetext&p_textid=557797

Chất siêu dẫn lithium dưới áp suất xung quanh

Như vậy, tính siêu dẫn hiển hiện ở 20 kelvin trong lithium được nén chắc chắn là do những thay đổi áp suất trong luồng dẫn electron. Tính siêu dẫn ở áp suát xung quanh cho tới nay vẫn chưa được chứng minh.

Nhóm nghiên cứu thuộc Phòng thí nghiệm trường Đại học Công nghệ Helsinki do Juha Tuoriniemi đứng đầu đã chứng minh được rằng tính siêu dẫn của lithium ở áp suất xung quanh ở nhiệt độ chuyển tiếp 0,4 millikelvin.

Khi coi lithium có một cấu trúc rất đơn giản, thì đó là một khám phá quan trọng cho phép sắp xếp các chất siêu dẫn.

NACESTI (theo Techno-Science.net; 29/10/2007, ảnh: Granules lithium được phủ bằng hydroxyde trắng lithium)

Trích: http://www.vista.gov.vn/pls/portal/PORTAL.wwv_media.show?p_id=432949&p_settingssetid=1&p_settingssiteid=33&p_siteid=33&p_type=basetext&p_textid=432950

Danh sách những người đã đạt giải Nobel Hoá Học

TRƯỚC ĐẠI CHIẾN THẾ GIỚI II

1901 Jacobus H. van’t Hoff (1852-1911) Hà Lan
Khám phá luật Động Hoá học và áp suất thẩm thấu trong các dung dịch
1902 Hermann Emil Fischer (1852-1919) Đức
Khảo cứu về sự tổng hợp các nhóm đường và purine

1903 Svante A. Arrhenius (1859-1927) Sweden
Thuyết điện ly (theory of electrolytic dissociation)

1904 Sir William Ramsay (1852-1916) Anh
Khám phá các khí hiếm (noble gases) trong không khí và xác định vị trí của chúng trong bảng phân loại tuần hoàn

1905 Adolf von Baeyer (1835-1917) Germany
Để phát triển hóa Hữu cơ Cơ cấu và hóa Kỹ nghệ. Công trình trên chất phẩm nhuộm và các hợp chất hydrocarbur thơm

1906 Henri Moissan (1852-1907) France
Nghiên cứu và cách ly chất Fluor và cho ra lò điện phục vụ cho khoa học (điều chế acetylene từ carbur calcium)

1907 Eduard Buchner (1860-1917) Germany
Nghiên cứu về Sinh Hóa . Khám phá sự lên men không tế bào (fermentation without cells)

1908 Sir Ernest Rutherford (1871-1937) Anh
Nghiên cứu trên sự phân rã các nguyên tố (Decay of the elements) và hóa học các hợp chất phóng xạ (chemistry of radioactive substances)

1909 Wilhelm Ostwald (1853-1932) Germany
Công trình nghiên cứu chất xúc tác, cân bằng hóa học và vận tốc phản ứng

1910 Otto Wallach (1847-1931) Germany
Phát triển ngành hóa Hữu cơ và kỹ nghệ hóa học nhờ các công trình sơ khởi trong lãnh vực các hợp chất alicyclic

1911 Marie Curie (1867-1934, gốc Poland) France Khám phá chất radium và polonium

1912 Victor Grignard (1871-1935) and Paul Sabatier (1854-1941)- France
Khám phá ra chất phản ứng Grignard (réactif Grignard,các organomagnésien) nhờ đó ngành hóa hữu cơ phát triển mạnh
-Hydrogen hóa các hợp chất hữu cơ với sự hiện diện của các kim loại

1913 Alfred Werner (1866-1919) Thụy Sĩ
Nối giữa các nguyên tử trong phân tử (Hóa vô cơ)

1914 Theodore W. Richards (1868-1928) USA
Xác định khối lượng nguyên tử

1915 Richard M. Willstätter (1872-1942) Germany
Nghiên cứu sắc tố của cây, đặc biệt chất chlorophyl (diệp lục tố)
1916
1917
1918 Fritz Haber (1868-1934) Germany
Tổng hợp ammoniac từ các nguyên tố
1919
1920 Walther H. Nernst (1864-1941) Germany
Nghiên cứu trên Nhiệt động học (Studies on thermodynamics)

1921 Frederick Soddy (1877-1956) Anh
Hóa học về các hợp chất phóng xạ, sự xuất hiện và bản chất của các chất đồng vị.

1922 Francis W. Aston (1877-1945) Anh
Khám phá nhiều chất đồng vị, khối lượng và phổ ký khối (mass spectrograph)

1923 Fritz Pregl (1869-1930) Austria
Microanalysis of organic compounds
1924
1925 Richard A. Zsigmondy (1865-1929, gốc Đức) Austria Chứng minh tính không đồng nhất của dung dịch keo và những phương pháp ông đã dùng, những phương pháp dựa trên căn bản của hóa học về chất keo (Colloid chemistry, ultramicroscope)

1926 Theodor Svedberg (1884-1971) Sweden
Disperse systems (ultracentrifuge)

1927 Heinrich O. Wieland (1877-1957) Germany
Constitution of bile acids
1928 Adolf O. R. Windaus (1876-1959) Germany
Nghiên cứu về sự cấu tạo sterol và sự liên quan của chúng với các vitamin (vitamin D)
1929 Sir Arthur Harden (1865-1940)
Hans von Euler-Chelpin (1873-1964, gốc Sweden) Anh
Germany Nghiên cứu sự lên men các chất đường và các enzyme tham dự vô sự lên men
1930 Hans Fischer (1881-1945) Germany Nghiên cứu máu và sắc tố thực vật, cấu tạo chất hemin và chlorophyl và đặc biệt sự tổng hợp hemin
1931 Friedrich Bergius (1884-1949)
Karl Bosch (1874-1940) Germany
Germany Khai triển quá trình áp suất cao trong hóa học
1932 Irving Langmuir (1881-1957) USA Surface chemistry
1933
1934 Harold C. Urey (1893-1981) USA Khám phá Hydrogen nặng (deterium)
1935 Jean Frédéric Joliot (1900-1958
Irène Joliot-Curie (1897-1956) France
France Tổng hợp những nguyên tố phóng xạ nhân tạo mới
1936 Peter J. W. Debye (gốc Hà Lan, 1884-1966) Germany Nghiên cứu momen lưỡng cực (momen điện phân tử) và trên sự nhiễu xạ tia X và tia điện tử bởi chất khí
1937 Walter N. Haworth (1883-1950)
Paul Karrer (1889-1971) Anh
Thụy Sĩ Nghiên cứu carbohydrat và vitamin C
Nghiên cứu carotenoids, flavins, vitamins A và B2
1938 Richard Kuhn (1900-1967) Germany Nghiên cứu carotenoids và vitamins
1939 Adolf F. J. Butenandt (1903-1995)
Leopold Ruzicka (1887-1976) Germany
Thụy Sĩ Nghiên cứu kích thích tố giới tính
Nghiên cứu polymethylenes và cơ cấu terpenes
1940
1941
1942
1943 Georg de Hevesy (1885-1966) Hungary Áp dụng của chất đồng vị như một chất chỉ thị (indicator) trong sự khảo cứu quá trình hóa học

SAU ĐẠI CHIẾN THẾ GIỚI II , LÚC NÀY KHOA HỌC THẾ GIỚI CÓ NHIỀU BƯỚC CHUYỂN MẠNH

1944 Otto Hahn (1879-1968) Germany Khám phá sự phân hạch cùa nguyên tử (nuclear fission of atoms)
1945 Artturi I. Virtanen (1895-1973) Finland Khám phá trong lãnh vực hóa học nông nghiệp và thực phẩm, đặc biệt tìm ra cách bảo quản rơm
1946 James B. Sumner (1887-1955)

John H. Northrop (1891-1987)
Wendell M. Stanley (1904-1971)
USA
USA
USA Khám phá khả năng kết tinh enzym

Điều chế enzym và protein của virus dưới dạng tinh chất

1947 Sir Robert Robinson (1886-1975) Anh Nghiên cứu sản phẩm thực vật , đặc biệt chất alkaloids
1948 Arne W. K. Tiselius (1902-1971) Sweden Phân tích bằng cách dùng điện điện di và sự thẩm thấu (electrophoresis and adsorption), những khám phá tính dị nguyên (heterogenous) của các protein huyết thanh (serum proteins)
1949 William F. Giauque (1895-1982) USA Đóng góp cho nhiệt động hóa học, tính chất của các chất khi ở nhiệt độ vô cùng thấp (sự khử từ đoạn nhiệt, adiabatic demagnetization)
1950 Kurt Alder (1902-1958)

Otto P. H. Diels (1876-1954)
Germany
Germany Khám phá và khai triển tổng hợp nối đôi và những kiểu phản ứng trên nối đôi

Diễn tả và sự quan trọng của sườn căn bản thơm của các Steroids (Aromatic Basic Skeleton of the Steroids)
1951 Edwin M. McMillan (1907-1991)
Glenn T. Seaborg (1912-1999) USA
USA Khám phá trong hóa học các nguyên tố siêu uranium (transuranium elements)
1952 Archer J. P. Martin (1910-
Richard L. M. Synge (1914-1994) Anh
Anh Phát minh máy distribution chromatography
1953 Hermann Staudinger (1881-1965) Germany Những khám phá trong lãnh vực hóa đại phân tử (macromolecular chemistry)
1954 Linus C. Pauling (1901-1994) USA Nghiên cứu tính chất của nối hóa học (chemical bond) và làm sáng tỏ cấu trúc phân tử phức tạp của các protein
1955 Vincent du Vigneaud (1901-1978) USA Nghiên cứu trên tính chất sinh hóa các hợp chất quan trọng của lưu huỳnh. Lần đầu tiên tổng hợp được kích thích tố polypeptide
1956 Sir Cyril N. Hinshelwood (1897-1957)
Nikolai N. Semenov (1896-1986) Anh
Liên Xô Cơ chế của những phản ứng hóa học (Mechanisms of chemical reactions)
1957 Sir Alexander R. Todd (1907-1997) Anh Nghiên cứu các nucleotides và coenzymes của chúng
1958 Frederick Sanger (1918- Anh Cấu trúc của proteins, đặc biệt insulin
1959 Jaroslav Heyrovsky1890-1967) Czech Republic Khám phá và khai triển phương pháp phân tích cực phổ (Polarography)
1960 Willard F. Libby (1908-1980) USA Khám phá chất phóng xạ Carbon14 dùng để định tuổi trong khảo cổ học, địa chất học, địa vật lý (radiocarbon dating)
1961 Melvin Calvin (1911-1997) USA Nghiên cứu sự hập thu acid carbonic của cây (photosynthesis)
1962 John C. Kendrew (1917-
Max F. Perutz (1914- gốc Anh) Anh
Áo Nghiên cứu cấu trúc của globulin proteins
1963 Giulio Natta (1903-1979)
Karl Ziegler (1898-1973) Italy
Germany Hóa học và công nghệ các chất cao polymer (high polymers)
1964 Dorothy Crowfoot-Hodgkin (1910-1994) Anh Xác định cấu trúc của các hợp chất sinh học quan trọng nhờ tia X
1965 Robert B. Woodward (1917-1979) USA Tổng hợp các chất hữu cơ thiên nhiên như quinine…
1966 Robert S. Mulliken (1898-1986) USA Nghiên cứu các nối hóa học và cơ cấu điện tử của các phân tử bằng cách dùng phương pháp quỹ đạo các phân tử ( orbital method)
1967 Manfred Eigen (1927-)
Ronald G. W. Norrish (1897-1978)
George Porter (1920) Germany
Anh
Anh Nghiên cứu các phản ứng hóa học vô cùng nhanh nhờ làm rối loạn sự cân bằng khi dùng các xung năng lượng rất ngắn (disturbing the equilibrium by means of very short pulses of energy)
1968 Lars Onsager (1903-1976) USA Norway Nghiên cứu nhiệt động học của quá trình không thuận nghịch (thermodynamics of irreversible processes)
1969 Derek H. R. Barton (1918-1998)
Odd Hassel (1897-1981) Anh
Norway Khai triển quan niệm về hình dạng các phân tử hữu cơ trong không gian (dạng ghế, thuyển) và áp dụng trong hóa học
1970 Luis F. Leloir (1906-1987) Argentina Khám phá đường nucleotides và vai trò của chúng trong sự sinh tổng hợp của carbohydrates ( biosynthesis of carbohydrates
1971 Gerhard Herzberg (1904-1999) Canada Cấu trúc của electron và hình học các phân tử, đặc biệt các gốc tự do (free radicals, molecular spectroscopy)
1972 Christian B. Anfinsen (1916-1995)
Stanford Moore (1913-1982)
William H. Stein (1911-1980) USA
USA
USA Nghiên cứu enzym ribonuclease

Nghiên cứu sự liên quan giữa cơ cấu hóa học và tính xúc tác của trung tâm hoạt tính của ribonuclease
1973 Ernst Otto Fischer (1918)
Geoffrey Wilkinson (1921) Germany
Anh Hoá hữu cơ kim loại với cơ cấu hợp chất kiểu bánh kẹp sandwich (Chemistry of metal-organic sandwich compounds)
1974 Paul J. Flory (1910-1985) USA Hóa lý các chất đại phân tử (Physical chemistry of macromolecules)
1975 Sir John Cornforth (1917, gốc Australia)

Vladimir Prelog (1906-1998, gốc Yugoslavia)
Anh
Thụy Sĩ Hóa lập thể của các phản ứng dùng chất xúc tác là những enzyme hữu cơ (Stereochemistry of enzyme catalysis reactions)

Nghiên cứu hóa lập thể các phân tử hữu cơ và phản ứng của chúng
1976 William N. Lipscomb (1919) USA Cấu trúc của boranes và giải thích tính chất của nối hóa học phức tạp của chúng
1977 Ilya Prigogine (1917) Belgium Đóng góp cho ngành nhiệt động học những quá trình không thẳng hàng và không thuận nghịch, đặc biệt cho thuyết cấu trúc phân rã ( theory of dissipative structures) có ích cho nhiều ngành
1978 Peter Mitchell (1920-1992) Anh Nghiên cứu sự truyền năng lượng sinh học ( biological energy transfer), khai triển thuyết thẩm thấu hóa học (chemiosmotic theory)
1979 Herbert C. Brown (1912)
George Wittig (1897-1987) USA
Germany Khai triển các hợp chất Bor hữu cơ và các hợp chất phospho chứa nhiều tác nhân trong sự tổng hợp hữu cơ
1980 Paul Berg (1926)
Walter Gilbert (1932)
Frederick Sanger (1918)
USA
USA
Anh Nghiên cứu sinh hóa của nucleic acids, đặc biệt Berg là người đầu tiên làm ra phân tử chứa một phần gen người và một phần gen vi khuẩn nhờ hóa chất (kỹ thuật giải phẫu gen)

Xác định các base sequences (các đoạn nhỏ DNA) trong nucleic acids (DNA) nhờ dùng các DNA của virus và vi khuẩn

1981 Kenichi Fukui (1918-1998)Japan
Roald Hoffmann (1937) USA
Thuyết về sự tiến triển của các phản ứng hóa học. (biên giới của orbital theory) (1)
1982 Aaron Klug (1926) Nam Phi
Phát triển các phương pháp tinh thể học (crystallographic) để giải thích cấu trúc các protein của acid nucleic phức tạp quan trọng.

1983 Henry Taube (1915) Canada
Cơ chế phản ứng của sự di chuyển các electrons , đặc biệt với các chất phức tạp kim loại (metal complexes)

1984 Robert Bruce Merrifield (1921) USA
Phương pháp điều chế peptides và proteins

1985 Herbert A. Hauptman (1917),Jerome Karle (1918) USA
Phát triển phương pháp trực tiếp đê xác định cấu trúc các tinh thể

1986 Dudley Herschbach (1932)and Yuan T. Lee (1936)-USA,
John C. Polanyi (1929) Canada
Động học về các quá trình hóa học cơ bản

1987 Donald J. Cram (1919)USA
Charles J. Pedersen (1904-1989)USA
Jean-Marie Lehn (1939) France
Sự khai triển và cách dùng của những phân tử có tương tác cấu trúc đặc biệt với sự chọn lựa kỹ

1988 Johann Deisenhofer (1943)
Robert Huber (1937)
Hartmut Michel (1948) Germany
Nghiên cứu trên cấu trúc protein dùng trong quang hợp: xác định cấu trúc 3 chiều của trung tâm phản ứng quang hợp (photosynthetic reaction center)

1989 Thomas R. Cech (1947)
Sidney Altman (1939) USA
USA Khám phá tính chất xúc tác của RNA (ribonucleic acid)
1990 Elias James Corey (1928) USA

Phát triển phương pháp mới cho sự tổng hợp các hợp chất hữu cơ thiên nhiên (retrosynthetic analysis)

1991 Richard R. Ernst (1933) Thụy Sĩ
Phát triển phương pháp học cho phổ cộng hưởng từ hạch tâm với độ phân giải cao(high resolution nuclear magnetic resonance spectroscopy, NMR)

1992 Rudolph A. Marcus (1923, gốc Canada) USA
Thuyết về sự truyền điện tử Theories of electron transfer

1993 Kary B. Mullis (1944)USA
Michael Smith (1932, gốc Anh)Canada
Phát minh phương pháp polymerase chain reaction (PCR) để cấy DNA

Công trình cơ bản trên nguồn gốc sự đột biến (mutagenesis) căn cứ trên việc dùng các oligonucleotides và áp dụng sự đột biến để nghiên cứu các proteines

1994 George A. Olah (1927) USA
Sáng chế phương pháp để làm các carbocations bền để nghiên cứu cấu trúc, độ bền và phản ứng của chúng bằng phương pháp phổ học

1995 Paul Crutzen (1933) HALAN
Mario Molina (1943, gốc Mexico)USA
F. Sherwood Rowland (1927) USA
Công trình về hóa học khí quyển:sự cân bằng ozone trong khí quyển, đặc biệt về sự tạo thành và phân hủy của ozone bởi các gốc tự do.

1996 Harold W. Kroto (1939)Anh
Robert F. Curl, Jr. (1933)USA
Richard E. Smalley (1943) USA
Khám phá fullerenes

1997 Paul D. Boyer (1918)USA
John E. Walker (1941)Anh
Jens C. Skou (1918)Dan Mạch
Làm sáng tỏ cơ chế dùng enzym để tổng hợp adenosine triphosphate (ATP)
Người khám phá ra đầu tiên ion mang enzyme là ion Na+, K+-ATPase
1998 Walter Kohn (1923)USA
John A. Pople (1925-2004)Anh
Khai triển thuyết density-functional để nghiên cứu cơ chế phản ứng hóa học bằng enzymes, thí dụ khi nước dược biến đổi thành oxygen trong sự quang hợp

Phát triển phương pháp kỹ thuật máy tính trong hóa lượng tử (quantum chemistry, GAUSSIAN computer programs) phục vụ cho việc kiểm tra và xác định cấu trúc hóa học và những chi tiết của vật chất

1999 Ahmed H. Zewail (1946, gốc Egypt) USA
Nghiên cứu những giai đoạn chuyển tiếp cùa các phản ứng hóa học bằng cách dùng máy chụp hình laser cực nhanh, bằng 10-15 giây máy femtosecond spectroscopy
2000 Alan J. Heeger ( 1936)USA
Alan G. MacDiarmid (1927)USA
Hideki Shirakawa (1936) Japan
Khám phá và phát triển các chất nhựa dẫn điện (conductive polymers)

2001 William S. Knowles (1917)USA
Ryoji Noyori (1938)Japan
K. Barry Sharpless (1941)USA

Nghiên cứu những phản ứng hydrogen hóa xúc tác bởi chất triền quang (chirally catalysed hydrogenation reactions)

Nghiên cứu những phản ứng oxd hóa xúc tác bởi chất triền quang (chirally catalysed

2002 John B. Fenn (1917)USA
Koichi Tanaka (1959)Japan
Kurt Wüthrich (1938)Thụy Sĩ

Phát triển những phương pháp ion hóa về giải hấp nhẹ cho sự phân tích phổ khối lượng của các chất đại phân tử trong sinh học

phát triển phổ từ cộng hưởng hạch tâm để xác định cấu trúc không gian ba chiểu của chất đại phân tử trong sinh học

John A. Pople (1925-2004)USA

Anh

Khai triển thuyết density-functional để nghiên cứu cơ chế phản ứng hóa học bằng enzymes, thí dụ khi nước dược biến đổi thành oxygen trong sự quang hợp

Phát triển phương pháp kỹ thuật máy tính trong hóa lượng tử (quantum chemistry, GAUSSIAN computer programs) phục vụ cho việc kiểm tra và xác định cấu trúc hóa học và những chi tiết của vật chất
1999 Ahmed H. Zewail (1946, gốc Egypt) USA Nghiên cứu những giai đoạn chuyển tiếp cùa các phản ứng hóa học bằng cách dùng máy chụp hình laser cực nhanh, bằng 10-15 giây máy femtosecond spectroscopy
2000 Alan J. Heeger ( 1936)
Alan G. MacDiarmid (1927)
Hideki Shirakawa (1936) USA
USA
Japan Khám phá và phát triển các chất nhựa dẫn điện (conductive polymers)
2001 William S. Knowles (1917)
Ryoji Noyori (1938)

K. Barry Sharpless (1941)
USA
Japan
USA Nghiên cứu những phản ứng hydrogen hóa xúc tác bởi chất triền quang (chirally catalysed hydrogenation reactions)

Nghiên cứu những phản ứng oxd hóa xúc tác bởi chất triền quang (chirally catalysed
2002 John B. Fenn (1917)
Koichi Tanaka (1959)

Kurt Wüthrich (1938)
USA
Japan
Thụy Sĩ Phát triển những phương pháp ion hóa về giải hấp nhẹ cho sự phân tích phổ khối lượng của các chất đại phân tử trong sinh học

phát triển phổ từ cộng hưởng hạch tâm để xác định cấu trúc không gian ba chiểu của chất đại phân tử trong sinh học

2003 Peter Agre (1949),Roderick MacKinnon (1956)USA

Khảo sát các đường dẫn nước và ions trong các tế bào sinh vật:

Khám phá các kênh (channels) trong màng tế bào

Khám phá những kênh nước Discoveries concerning channels in cell membranes:

Cấu trúc và nghiên cứu cơ chế của ion kênh .

Nobel Hoá Học 2004

Aaron Ciechanover và Avram Hershko (người Israel) cùng với Irwin Rose vào những năm 1980 đã khám phá ra rằng các tế bào sẽ tặng một “nụ hôn tử thần” lên những protein mà hệ miễn dịch sẽ phải tiêu diệt. Các protein bị đánh dấu này sau đó bị hệ miễn dịch “chặt” ra nhiều mảnh nhỏ.

Sự “thủ tiêu protein có chủ định” chi phối nhiều quá trình trong cơ thể như phân chia tế bào, sửa chữa ADN và kiểm soát chất lượng của việc sản xuất protein mới, là những quá trình phòng thủ quan trọng của hệ miễn dịch.

“Khi quá trình tiêu hủy protein gặp trục trặc, chúng ta sẽ bị ốm. Hai ví dụ cho trường hợp này là chứng ung thư họng và xơ hóa u nang”, Hội đồng trao giải cho nhận định, đồng thời bổ sung thêm rằng những phát kiến của ba nhà khoa học đã “tạo ra cơ hội để phát triển những loại thuốc chống lại các căn bệnh này”.

Ciechanover, 57 tuổi, là giám đốc của Viện nghiên cứu Y khoa Rappaport Family tại Technion ở Haifa, Israel, trong khi Hershko, 67 tuổi, gốc Hungary, là một giáo sư ở đó.

Rose là một chuyên gia tại phòng sinh lý học và lý sinh, thuộc trường Y, Đại học tổng hợp Irvine, bang California, Mỹ.
Xem ảnh :
Avram Hershko (trái) và Aaron Ciechanover.

Nobel Hoá Học 2005

Giải Nobel Hóa học năm nay được chia đều cho 3 ba nhà khoa học: giáo sư Yves Chauvin (người Pháp), giáo sư Robert H. Grubbs thuộc Viện công nghệ California và giáo sư Richard R. Schrock thuộc Viện công nghệ Massachusetts, Hoa Kỳ. Cả ba ông đều đã góp công phát triển phương pháp hoán vị trong tổng hợp các hợp chất hữu cơ.

Phương pháp hoán vị đã trở thành một trong những phương pháp được ứng dụng rộng rãi nhất trong hóa học hữu cơ. Nó cho phép tổng hợp nhân tạo các hợp chất quan trọng như các dược phẩm… Trong phản ứng hoán vị, người ta sử dụng các chất xúc tác đặc biệt để bẻ gãy cũng như tạo ra các nối đôi giữa các nguyên tử carbon, điều này dẫn đến sự thay đổi vị trí của các nhóm phân tử.

Phương pháp này có nhiều ưu điểm nổi bật như: hiệu suất tổng hợp cao (phản ứng ít giai đoạn hơn, cần ít nguyên liệu hơn, sinh ra ít chất thải hơn), dễ sử dụng (xúc tác bền trong không khí ở nhiệt độ và áp suất thường) và thân thiện với môi trường (dung môi và các chất thải ít độc hại).

Được biết, từ năm 1971 giáo sư Yves Chauvin đã có thể mô tả một cách chi tiết các diễn biến của phản ứng hoán vị và đã dự đoán được những loại xúc tác cần cho phản ứng này. Giáo sư Richard Schrock là ngưòi đầu tiên tạo ra được một chất xúc tác kim loại cực kỳ hiệu quả cho phản ứng hoán vị vào năm 1990. Hai năm sau, giáo sư Robert Grubbs đã tìm ra một xúc tác có nhiều ưu điểm hơn, có độ bền cao trong không khí và chất này đã nhanh chóng được ứng dụng rộng rãi.

Phản ứng hoán vị là một bước tiến lớn đưa con người đến gần với mục tiêu “hóa học xanh”. Ngày nay, phản ứng này được ứng dụng chủ yếu trong công nghiệp dược phẩm và vật liệu polymer cao cấp.

Gần nửa thế kỷ sau khi cha mình đoạt giải Nobel, giáo sư người Mỹ Roger D. Kornberg cũng giành được giải Nobel Hoá học năm nay nhờ nghiên cứu về việc tế bào lấy thông tin từ gene như thế nào để tạo ra protein.

Công trình nghiên cứu tế bào đoạt giải Nobel Hoá học 2006

Roger D. Kornberg (phải) và người cha của mình.
Roger D. Kornberg (phải) và người cha của mình. (Ảnh: AP)

Công trình của ông tạo ra một bức tranh chi tiết về quá trình này, gọi là quá trình đọc chép, Viện hàn lâm khoa học hoàng gia của Thuỵ Điển cho biết. Những xáo trộn trong quá trình đọc chép này xảy ra trong rất nhiều căn bệnh của con người, bao gồm ung thư, bệnh tim và nhiều loại viêm nhiễm khác. Phát hiện của Kornberg đã giúp đặt nền tảng cho việc phát triển nhiều loại thuốc chống những căn bệnh này.Phát biểu tại buổi họp báo, Kornberg cũng cho biết: “Sẽ có những biện pháp chữa trị đặc hiệu cho một vài căn bệnh trong thập kỷ tới”.

Quá trình đọc chép giúp gene nhận ra protein nào mà tế bào sản xuất. Trong quá trình này, thông tin từ gene sẽ được sử dụng để tạo ra các phân tử gọi là “sứ giả ARN“. Những phân tử này sẽ chuyển thông tin tới cỗ máy chế tạo protein trong tế bào. Ngược lại, protein cũng hoạt động như kết cấu của tế bào giúp tế bào vận hành một cách có hiệu quả.

“Nhờ sự khéo léo của mình, Kornberg đã có thể đóng băng giữa chừng quá trình xây dựng ARN. Nhờ đó ông có thể ghi lại được toàn bộ quá trình đọc chép đó và tạo nên một cuộc cách mạng thực sự”, hội đồng trao giải phát biểu.

Nhà khoa học 59 tuổi là thành viên của Trường y thuộc Đại học Stanford ở Palo Alto, California. Cha của ông là Arthur Kornberg cũng đã giành giải Nobel Y học vào năm 1959 nhờ công trình về di truyền học.

Roger D. Kornberg là người duy nhất đạt giải về hoá học và là người Mỹ thứ năm đoạt giải Nobel năm nay. Giải Nobel Hoá học năm ngoái thuộc về Yves Chauvin người Pháp cùng Robert H. Grubbs và Richard R. Schrock người Mỹ, nhờ phát hiện ra cách làm giảm chất thải độc hại khi tạo ra các hoá chất mới.

M.T.

Theo AP, Vnexpress

Người Đức đoạt Nobel Hóa học 2007

Lao Động Điện tử Cập nhật: 5:45 PM, 10/10/2007
Giáo sư Gerhard Ertl đã đoạt giải Nobel Hóa học năm nay.
(LĐĐT) – Trái với các dự đoán, Nobel Hóa học 2007 đã được trao cho nhà khoa học người Đức Gerhard Ertl với công trình “Các tiến trình hóa học trên bề mặt chất rắn”.

Gerhard Ertl năm nay 71 tuổi, là giáo sư tại Viện Nghiên cứu Fritz-Haber thuộc trường Đại học Max-Planck, CHLB Đức.

Viện Khoa học hoàng gia Thụy Điển đánh giá, nghiên cứu của Ertl đã đặt nền móng cho ngành hóa học bề mặt hiện đại. Công trình của ông đã giúp giải thích pin nhiên liệu hoạt động ra sao, làm thế nào mà bộ phận ống xả có thể gạn lọc chất độc thải ra từ khói xe và thậm chí tại sao bàn là lại bị rỉ.

Cũng theo Viện hàn lâm Khoa học Hoàng gia Thụy Điển, Ertl đã mô tả một cách chi tiết quá trình xảy ra các phản ứng hóa học trên các bề mặt và nghiên cứu sâu một số bí ẩn cơ bản nhất của các quá trình ấy. Ông đã thu được những thành quả quan trọng trong một lĩnh vực đầy khó khăn, và những khám phá của ông có thể được ứng dụng cả trong nghiên cứu lý thuyết lẫn phát triển công nghiệp.

Phát biểu với báo giới sau lễ trao giải Nobel Hóa học, Ertl nói: “Đây là món quà sinh nhật tuyệt vời nhất trong đời tôi”.

Giải Nobel Hóa học, cùng với các giải Nobel Vật lý, Y học, Văn học và Kinh tế (trị giá mỗi giải thưởng là 1,5 triệu USD) sẽ được nhà vua Thụy Điển Carl Gustaf XVI trao vào ngày 10.12 tại Stockholm (Thụy Điển), nhân kỷ niệm ngày mất của Afred Nobel.

2008


TTO – Hai nhà khoa học Mỹ và một nhà khoa học Nhật đã giành giải Nobel hóa học 2008 nhờ có công khám phá protein phát huỳnh quang xanh, được sử dụng rộng rãi trong nhiều lĩnh vực nghiên cứu như y học, công nghệ sinh học và sinh học tế bào.

Theo Viện Hàn lâm khoa học hoàng gia Thụy Điển, ba nhà khoa học: Osamu Shimomura (Nhật Bản), Martin Chalfie (Mỹ) và Roger Tsien (Mỹ) đã được chọn trao giải Nobel nhờ công trình nghiên cứu về protein phát huỳnh quang xanh, hay còn gọi là GFP (green fluorescent protein).

Protein này là một dụng cụ thí nghiệm được sử dụng khá rộng rãi giúp các nhà khoa học theo dõi các quá trình ở sinh vật sống, chẳng hạn quá trình phát triển của các tế bào não hoặc sự lây lan của các tế bào ung thư.

Nhà khoa học Shimomura lần đầu tiên phân lập được GFP từ một con sứa được tìm thấy ngoài khơi biển Bắc Mỹ vào năm 1962 và phát hiện rằng nó phát ánh sáng màu xanh lục dưới ánh sáng cực tím. Vào những năm 1990, Chalfie đã chứng minh GFP là “một chuỗi gen phát sáng”, sau đó Tsien đã khám phá cơ chế hoạt động của GFP.

Theo hội đồng xét giải, công trình nghiên cứu của bộ ba nói trên “cho phép các nhà khoa học theo dõi nhiều quá trình sinh học khác nhau vào cùng thời điểm”. Điều này có nghĩa là các nhà nghiên cứu có thể sử dụng GFP để theo dõi sự hư hại của tế bào thần kinh do ảnh hưởng của bệnh Alzheimer hoặc quan sát cách thức hình thành các tế bào beta sản sinh insulin ở tuyến tụy của bào thai đang phát triển.

Nhà khoa học Shimomura sinh năm 1928, đang công tác tại Phòng thí nghiệm sinh vật biển ở Woods Hole, Massachusetts và Trường ĐH Boston.

Nhà khoa học Chalfie sinh năm 1947, là giáo sư Trường ĐH Columbia ở New York, còn nhà khoa học Tsien sinh năm 1952, là giáo sư Trường ĐH California, San Diego.

Theo Tuổi trẻ online

Nobel Hóa học 2009 tôn vinh những nghiên cứu về ribosome
Nobel Hóa học 2009 đã được Viện Hàn lâm Khoa học Hoàng gia Thuỵ Điển công bố lúc 16h45 ngày 7/10 (giờ Việt Nam). Chủ nhân của giải thưởng năm nay là 3 nhà khoa học gồm: Venkatraman Ramakrishnan (sinh năm 1952 tại Ấn Độ, hiện mang quốc tịch Mỹ và là GS.TS tại Phòng thí nghiệm Sinh học Phân tử, Cambridge, Anh), Thomas A. Steitz (sinh năm 1940, người Mỹ, GS.TS về sinh học phân tử và hoá sinh, Đại học Yale, Mỹ) và Ada E. Yonath (sinh năm 1939, người Israel, hiện là GS.TS về sinh học cấu trúc tại Viện Khoa học Weizmann, Rehovot, Israel) – người phụ nữ thứ tư trong lịch sử giành giải Nobel Hóa học và là nhà khoa học nữ đầu tiên giành giải thưởng cao quý này kể từ năm 1964.
Trong thông cáo báo chí được đưa ra hôm 7/10, Viện Hàn lâm Khoa học Hoàng gia Thuỵ Điển cho biết 3 nhà khoa học đoạt giải “vì những nghiên cứu về cấu trúc và chức năng của ribosome” – những cứu về một trong những quy trình cốt lõi nhất của sự sống. Ribosome là một trong những thể hạt nhỏ, phức tạp, gồm các protein khác nhau và 3 phân tử axit ribonucleic, nó tổng hợp các protein trong tế bào. Ribosome tạo ra các protein để kiểm soát về hoá học mọi cơ thể sống. Do các ribosome là thiết yếu cho sự sống, nên chúng còn là đối tượng chính cho nghiên cứu các thuốc kháng sinh mới. Viện Khoa học Hoàng gia Thụy Điển tuyên bố phát hiện về ribosome của 3 nhà khoa học trên giúp giới khoa học hiểu rõ hơn về sự sống và phát triển thành công nhiều loại thuốc kháng sinh mới để điều trị nhiều chứng bệnh khác nhau.

Venkatraman Ramakrishnan, Thomas A. Steitz và Ada E. Yonath đã chỉ rõ được cấu trúc và chức năng của ribosome là như thế nào ở cấp độ nguyên tử. Cả 3 nhà khoa học đều sử dụng phương pháp được gọi là vẽ biểu đồ tinh thể bằng X quang (X-ray crystallography) để xác định vị trí của hằng trăm ngàn nguyên tử tạo thành ribosome được coi là cơ sở sản xuất protein của tế bào.

Trong mọi tế bào của mọi cơ thể sống đều có các phân tử ADN. Chúng chứa đựng các các “bản thiết kế” (blueprints) để cho thấy một con người, một loại cây hay một vi khuẩn trông như thế nào và hoạt động thế nào. Các blueprint được biến đổi thông qua hoạt động của các ribosomes. Dựa trên thông tin trong ADN, các ribosomes tạo ra protein như haemoglobin vận chuyển oxy, các kháng thể của hệ miễn dịch, các hoóc môn như insulin, collagen của da… Có hàng chục ngàn protein trong cơ thể và chúng có những dạng và chức năng khác nhau. Chúng hình thành và kiểm soát sự sống ở cấp độ hoá học.

Hiểu biết về hoạt động bên trong của ribosome là rất quan trọng đối với khoa học sự sống. Những hiểu biết này có thể ứng dụng ngay vào thực tiễn, nhiều loại thuốc kháng sinh ngày nay điều trị nhiều căn bệnh bằng cách ngăn chặn chức năng của các ribosome của vi khuẩn. Khi không có các ribosome chức năng, vi khuẩn không thể sống được. Điều này giải thích vì sao các ribosome là “mục tiêu” quan trọng cho các loại thuốc kháng sinh mới.

3 nhà khoa học được vinh danh năm nay đã tạo ra các mô hình 3 chiều (3D) để chỉ ra rằng các loại thuốc kháng sinh khác nhau đã làm tê liệt chức năng của ribosome trong tế bào vi khuẩn như thế nào, khiến vi khuẩn không thể sản xuất những loại protein cần thiết để tồn tại. Các mô hình này hiện nay được nhiều nhà khoa học khác sử dụng để phát triển các thuốc kháng sinh mới nhằm điều trị những căn bệnh viêm nhiễm khó chữa do vi khuẩn gây nên.

Giải thưởng 1,4 triệu USD được chia đều cho 3 nhà nghiên cứu. Mỗi người cũng được trao một giấy chứng nhận và một giấy mời tới dự Lễ trao Giải thưởng tại Stockholm, Thụy Điển vào ngày 10/12 tới.

NACESTI (theo http://nobelprize.org)