Blog Archives

Chất độc hóa học

Cách đây 2400 năm, chất độc hóa học đã được sử dụng đầu tiên trong lịch sử loài người. Đó là trận Pelepones ở đế quốc La Mã. Trong trận này nghĩa quân Spactacus đã đốt lưu huỳnh dưới chân thành Platee, nhằm đầu độc binh lính đối phương.

Trong chiến tranh thế giới lần thứ nhất 1914 – 1918 chất độc hóa học đã được sử dụng một cách rộng rãi. Ngày 22-04-1915 quân Đức đã tung ra 6000 bình chứa chất clo có dung lượng 180 tấn để chống lại liên quân Pháp – Anh ở gần thành phố Ipra (Bỉ). Dùng clo chỉ trong vòng 5 phút, trên một chuyến tuyến dài 6 km, quân Đức đã tiêu diệt cả một sư đoàn đối phương làm mất khả năng chiến đấu của 15.000 người, trong đó có 5000 người bị chết sau đó.

Một tháng sau, quân Đức lại dùng 12.000 bình chứa 150 tấn clo tấn công quân Nga đang đóng ở Ba Lan, làm quân Nga bị tổn thất nặng. Tổng cộng 1 trận binh lính các phe bị nhiễm chất độc hóa học, trong đó có 100.000 người chết.

Để đối phó lại việc sử dụng chất độc của quân Đức, một giáo sư bác học người Nga là Zelinsky đã quyết tâm nghiên cứu tìm ra một thiết bị chống lại khí độc. Tới tháng 06-1915 ông đã hoàn thành chiếc mặt nạ chống độc hóa học đầu tiên. Nó có tác dụng giữ toàn bộ khí độc ở bên ngoài, chỉ có không khí sạch đi qua. Nó đã góp phần đánh bại quân Đức và giúp cho hàng vạn người thoát khỏi cái chết bởi chất độc hóa học.

baomoi.com

Advertisements

Trái đất có châu lục thứ 8?

Bài viết cập nhật lúc: 02:15 ngày 10/03/2010

Mọi người đều biết trái đất của chúng ta có 7 châu lục. Nhưng có lẽ sẽ nhiều người ngạc nhiên khi biết rằng tại một nơi ít người lui tới trên biên Thái Bình Dương, một “châu lục mới” đang hình thành.

Một “châu lục” mới đang hình thành từ rác thải của chính con người. Ảnh: Internet.

Người ta gọi lục địa mới này là “châu lục thứ 8” của trái đất. Có điều châu lục mới này được cấu tạo hoàn toàn từ rác. Hiện tại, hòn đảo rác này đã có diện tích gấp 6 lần diện tích của nước Anh.

Theo thông tin từ báo chí Anh, hòn đảo rác khổng lồ này được gọi là “vùng rác Thái Bình Dương”, nằm ở giữa California và Hawaii của nước Mỹ. Vùng này là một trong năm vùng xoáy nước lớn nhất trên trái đất. Xoáy nước này có khả năng hút tất cả rác thải trong phạm vi hàng ngàn km và dồn vào trung tâm của nó.

Nó hình thành từ xoáy nước khổng lồ trên biển Thái Bình Dương. Ảnh: Internet.

Vào khoảng 60 năm trước, diện tích của vùng rác này đã bắt đầu lớn dần. Cũng theo thông tin từ bài báo này, lượng rác nơi đây vào khoảng hơn 10 triệu tấn.

Về chủng loại cũng vô cùng phong phú bao gồm túi nilon, bình đựng sữa tắm, dép lê, đồ chơi trẻ em, xăm lốp, bình nước thậm chí là cả hồ bơi nhựa…

Do sự tồn tại của đảo rác khổng lồ, nước biển ở khu vực này chứa đầy các chất độc hóa học cũng như các mảnh nhựa vụn. Và chúng trở thành thức ăn “bất đắc dĩ” cho không ít các loài cá. Hiện tại, người ta đã phát có loài cá mang 26 mảnh vụn nhựa trong bụng. Nhiều chuyên gia lên tiếng cảnh báo rằng, những loài cá ăn các vật chất có độc ở đây khi bị đánh bắt và biến thành thức ăn, sẽ gây ra tác hại không thể lường trước đối với sức khỏe của con người.

Đảo rác đã trở thành nguồn thức ăn bất đắc dĩ của nhều loài động vật. Ảnh: Internet.

Một nhiếp ảnh gia người Australia đã lập kế hoạch bơi một con thuyền được làm bằng các bình nhựa xuyên qua vùng rác thải này nhằm tạo sự chú ý của mọi người đối với vấn đề này. … nói: “Khi bạn nhìn liếc qua, có thể bạn thấy nó không khác nhiều lắm với các vùng biển khác. Nhưng nếu bạn nhìn kỹ hơn, thì nơi đây đều là nhựa, nó giống như một nồi canh chất dẻo vậy”.

Tuy đến thời điểm hiện tại, đảo rác khổng lồ này vẫn chưa hề tạo nên tác hại nào trực tiếp đến cuộc sống con người. Tuy nhiên, nếu như có một ngày nào đó, một châu lục mới được hình thành trên hành tinh xinh đẹp của chúng ta thì chắc chắn sẽ là một nguy cơ không nhỏ.

Sự lớn lên nhanh chóng của “châu lục” này là mối đe doạ không nhỏ đối với cuộc sống con người. Ảnh: Internet.

Gần đây, các nhà khoa học đang nghiên cứu về khả năng biến hoàn đảo rác khổng lồ này thành chất đốt. Theo dự kiến, vào mùa hè năm nay, các nhà khoa học sẽ tiến hành lấy mẫu và bắt đầu nghiên cứu.

  • Lê Văn (Theo Tân Hoa Xã)

Theo vietnamnet.vn

PHÂN BÓN HÓA HỌC

Đầu tiên chia ra làm 2 loại : Phân bón đơn và phân bón kép.
1) Phân bón đơn:
a.Phân đạm(chứa N):Phân Urê:CO(NH2)2 chứa 46.67%N
-Phân amoni nitrat NH4NO3(đạm 2 lá)
-Phân amoni clorua NH4Cl
-Phân amoni sunfat (NH4)S04(đạm 1 lá)
b) Phân lân(chứa P):Phân lân tự nhiên Ca3(P04)2
-Phân supe phôphat kép Ca(H2P04)
-Phân supe phôphat đơn Ca(H2P04)2 và CaS04
c) Phân Kali (chứa K) thường dùng là :K2S04,KCl
2) Phân bón kép là loại chứa 2,3 nguyên tố dinh dưỡng trên:
*KN03;(NH4)2,H2P04
Pbk NPK là hh gồm:NH4,N03,Ca(H2P04)2 và KCl
3) Phân vi lượng : B,Zn,Mn

LỢI ÍCH

Nguyên tố N:kích thích cây trồng phát triển mạnh.
Nguyên tố P:kích thích sự phát triển của bộ rễ thực vật.
Nguyên tố K:tổng hợp nên chất diệp lục và kích thích cây trông ra hoa,làm hạt.
Nguyên tố S:tổng hợp nên protein
Nguyên tố Ca,Mg cần cho thự vật để sinh sản chất diệp lục.
Các nguyên tố vi lượng,cây cần rất ít nhưng lại cần thiết cho sự phát triển của cây trồng.

TÁC HẠI:

Nếu dùng quá nhiều phân đạm,lân so với nhu cầu cây trồng sẽ gây ô nhiễm nặng nề nguồn nước sông hồ,nguồn nước ngầm.
Nguồn  http://community.h2vn.com/index.php?PHPS

Những loài cây thích 'ăn' chất độc

Cải xoong rất “nghiện” kim loại nặng. Nhiều loài cải dại khác cũng lớn nhanh như thổi khi được “ăn” nhiều chất độc tính cao như kẽm, nickel…

Kim loại nặng luôn được coi là độc chất hàng đầu đối với động thực vật, nhưng lại là món khoái khẩu đối với nhiều loài cây. Chúng hấp thụ và tích tụ kim loại nặng trong các bộ phận cơ thể.

Ngay từ cuối thế kỷ 19, các nhà khoa học đã phát hiện ra loài cải xoong (thuộc dòng hyperaccumulators) biết ăn kim loại từ trong đất. Trong thân của loại cây này có một lượng lớn chất kẽm. Sau đó, người ta phát hiện có khoảng 20 loài cải dại thuộc họ này rất thích “chén” những kim loại nặng có độc tính cao như nickel, kẽm. “Ăn” những món độc đó, chúng không chết mà còn lớn nhanh như thổi.

Loài hoa dại mang tên khoa học Alyssum bertolonii cũng có sở thích tươg tự. Nó có khả năng hút lượng nickel cao gấp 200 lần hàm lượng có thể giết chết hầu hết các loài thực vật khác.

Các nhà khoa học Trung Quốc phát hiện ra một loài cây dương xỉ, thuộc họ thực vật lâu đời nhất trên thế giới và mọc rất nhiều trong tự nhiên hoang dã, cũng có “sở trường ăn kim loại nặng” như đồng, thạch tín… Trên lá của loài dương xỉ này có tới 0,8% hàm lượng thạch tín, cao hơn hàng trăm lần so với bình thường, mà cây vẫn tốt tươi.

Thạch tín được cây dương xỉ lưu trong lớp lông tơ trên thân cây. Cây càng phát triển thì “nhu cầu” thạch tín càng lớn, và chúng còn di truyền khả năng “ăn”

chất độc sang các thế hệ sau.

Gần đây, các nhà khoa học Việt Nam đã phát hiện ra một loài cây dại có tên là thơm ổi có khả năng hấp thu lượng kim loại nặng cao gấp 100 lần bình thường và sinh trưởng rất nhanh. Món khoái khẩu của loài cây này là chì. Chúng có thể “ăn” lượng chì cao gấp 500-1.000 lần, thậm chí còn lên tới 5.000 lần so với các loài cây bình thường mà không bị ảnh hưởng. Thơm ổi được xem là loài siêu hấp thu chì và cadmi.

Cây thơm ổi mọc hoang nhiều ở Việt Nam. Ảnh: Sức Khỏe & Đời Sống.

Đến nay, các nhà khoa học đã thống kê được khoảng 400 loài thuộc 45 họ thực vật có khả năng “ăn” kim loại nặng (nồng độ tích lũy trong thân cây cao gấp hàng trăm lần so với bình thường) mà không bị tác động đến đời sống. Khi tích lũy hàm lượng kim loại nặng cao, không có loài sâu bọ nào dám ăn chúng nữa.

Giải độc cho môi trường

Các nhà khoa học đang hướng đến việc sử dụng đặc điểm thích kim loại nặng của một số loài cây để cải tạo môi trường sống.

Cục môi trường châu Âu đã so sánh hiệu quả kinh tế của các phương pháp truyền thống xử lý kim loại nặng trong đất và phương pháp sử dụng thực vật tại 1,4 triệu vị trí ô nhiễm. Kết quả cho thấy, việc dùng cây hút độc tiết kiệm hơn 1.000 lần.

Ngoài ra, khi thu hoạch các loài thực vật “ăn” kim loại, người ta có thể lấy được các loại kim loại quý như nicken, vàng… và đây cũng là một nguồn lợi kinh tế không nhỏ.

(Theo Sức Khỏe & Đời Sống)

Iraq: Hơn 350 người nhập viện khẩn cấp vì nhiễm độc khí clo

Thứ hai, 19 Tháng ba 2007, 08:48 GMT+7

Ngày 17/3, 3 vụ tấn công bom bằng khí clo đã khiến ít nhất 8 người thiệt mạng, 350 dân thường và 6 lính Mỹ phải nhập viện khẩn cấp do hít phải khí độc.

Ba kẻ đánh bom tự sát đã lái xe tải có gắn các thùng chứa khí độc Clo tấn công vào tỉnh Anbar có đông người Hồi giáo Sunni sinh sống, trong đó có văn phòng của lãnh đạo một bộ tộc Sunni chống lại al Qaeda.

Hai vụ tấn công xảy ra tại vùng Falluja và vụ thứ 3 gần Ramadi. Cả 2 khu vực này cũng được cho là chứa chấp các tay súng của al Qaeda.

Khí độc Clo có thể gây ra bỏng nặng cổ họng và phổi, thậm chí dẫn đến tử vong chỉ sau khi hít phải vài lần. Đây là loại hoá chất dễ kiếm vì thường được sử dụng rộng rãi trong việc tẩy sạch và lọc nước.

Các cuộc đột kích tại Anbar xảy ra chỉ 3 ngày sau khi Thủ tướng Iraq Nouri al Maliki – một tín đồ Hồi giáo dòng Shiite, tới khu vực này để yêu cầu các lãnh đạo bộ lạc Sunni hợp tác để chống lại lực lượng nổi dậy.

Tướng Roger Hollenbeck, chỉ huy một căn cứ quân đội liên minh gần Ramadi cho biết: “Gần 350 dân thường Iraq và 6 binh sĩ thuộc lực lượng liên minh đã phải điều trị vì hít phải khí độc, từ những vết bỏng nhẹ ở da cho tới nôn mửa và các triệu chứng bất thường ở phổi”.

Tháng trước, cũng đã có ít nhất 3 vụ đánh bom bằng khí Clo tại thủ đô Baghdad, trong đó một vụ xảy ra vào ngày 21/2 làm 5 người thiệt mạng và hơn 55 người phải vào viện khẩn cấp. Một ngày sau đó, một quả bom được bí mật gài kèm thùng chở Clo đã phát nổ gần Taji, cách thủ đô 12 dặm về phía bắc, làm 150 người bị thương.

H.B

Theo BBC, Reuter- Việt Báo

Trung Quốc: 164 người bị ngộ độc khí clo

Thứ hai, 10 Tháng bảy 2006, 14:47 GMT+7

164 người dân thành phố Yinchuan, nằm ở tây bắc Trung Quốc đã bị ngộ độc do hít phải khí clo bị rò rỉ từ một nhà máy hóa chất trong vùng.

Vụ việc xảy ra vào khoảng 21h ngày hôm qua, chủ nhật 9/7. Tới sáng ngày hôm nay, nguồn rò rỉ khí clo đã được chặn lại.

Hiện những nạn nhân bị ngộ độc khí đã được cấp cứu tại bệnh viện thành phố. Tình trạng sức khỏe của các nạn nhân được đánh giá khá nguy kịch.

Theo lời giải thích của ban quản lý nhà máy hóa chất, nguyên nhân dẫn đến tình trạng rò rỉ lượng lớn khí clo độc hại trên là do ống vận chuyển khí đã bị ăn mòn từ lâu và ngày hôm qua, chúng đã bị vỡ.

Hiện vẫn chưa xác định được có bao nhiêu lượng clo đã bị lọt ra ngoài môi trường khu vực quanh đó và liệu ảnh hưởng của chúng tác động thế nào đối với sức khỏe những người dân nơi đây.

Mai Hoa  (Theo Lenta Việt Báo)

Hg – Độc tính !!

1. Những đặc trưng của thuỷ ngân có thể được tóm tắt như sau :
– Là kim loại duy nhất tồn tại dưới dạng lỏng ở nhiệt độ thường. Nó bị phân chia thành các giọt nhỏ khi khuấy.
– Là kim loại duy nhất có nhiệt độ sôi thấp hơn 6500 (3570).
– Là kim loại được đặc trưng bởi khả năng dễ bay hơi.
– Là một kim loại dễ dàng kết hợp với những phân tử khác như với kim loại (tạo hỗn hống), với phân tử chất vô cơ (muối) hoặc hữu cơ (cacbon).
– Là kim loại được xếp vào họ kim loại nặng với khối lượng nguyên tử 200
– Là một kim loại độc. Độc tính của thuỷ ngân gây ra từ tính dễ bay hơi của nó (bởi vì nó rất dễ được hít vào cơ thể), từ tính tan trong mỡ (nó được vận chuyển dễ dàng trong cơ thể), từ khả năng kết hợp với những phân tử khác và làm mất chức năng của chúng.

2. Những dạng tồn tại của thuỷ ngân :

Về mặt hoá lí, thuỷ ngân là một kim loại rất dễ thay đổi dạng tồn tại cũng như tính chất. Rất dễ bay hơi, nó dễ dàng chuyển từ trạng thái lỏng sang trạng thái hơi ở nhiệt độ phòng. Khi có mặt oxy, thuỷ ngân dễ dàng bị oxy hoá chuyển từ dạng kim loại (Hg0), dạng lỏng hoặc khí sang trạng thái ion, (Hg2+). Nó cũng dễ dàng kết hợp với những phân tử hữu cơ tạo nên nhiều dẫn xuất thuỷ ngân.

Thuỷ ngân tồn tại dưới hai họ :
% Họ thuỷ ngân vô cơ, gồm ba dạng khác nhau :
+ Thuỷ ngân nguyên tử, dưới dạng lỏng (kí hiệu Hg0). Đó là dạng quen thuộc nhất . Nó được sử dụng trong các nhiệt kế.
+ Thuỷ ngân dưới dạng khí (kí hiệu Hg0), là thuỷ ngân dưới tác dụng của nhiệt chuyển thành hơi.
+ Thuỷ ngân vô cơ, dưới dạng ion.

% Họ thuỷ ngân hữu cơ, khi nó kết hợp với một phân tử chứa cacbon, là nền tảng của những cá thể sống.
Các dạng này có thể chuyển hoá qua lại vì thuỷ ngân có khả năng tự chuyển hoá, nhất là trong môi trường axit và có mặt phân tử có khả năng kết hợp (clo, lưu huỳnh). Có thể miêu tả sự chuyển hoá như sau :
– Từ thuỷ ngân kim loại thành ion thuỷ ngân – sự oxy hoá. Thuỷ ngân được hít vào dưới dạng hơi, dưới tác động của catalaze có trong hồng cầu, thuỷ ngân kim loại được chuyển thành ion Hg2+ lưu thông trong máu.
– Từ ion Hg2+ thành thuỷ ngân hữu cơ – sự metyul hoá. Sự metyl hoá diễn ra chủ yếu trong môi trường nước hoặc trong cơ thể chuyển biến theo tính axit và sự có mặt của lưu huỳnh. Những hợp chất hữu cơ của thuỷ ngân được biết đến nhiều là metyl thuỷ ngân và đimetyl thuỷ ngân.
__________________
Thủy ngân độc hại ra sao ?
-1-
Hàng triệu người Mỹ thích hưởng những thú vui ngoài trời, nhất là câu cá. Đa số câu cá cho vui thôi, nhưng trong nước có một chất nguy hiểm mà ta không thể luôn luôn nhìn thấy, ngửi thấy hay nếm thấy. Chất nguy hiểm đó là thủy ngân trong con cá.

-2-
Thủy ngân là một nguyên tố hóa học cơ bản mà các khoa học gia phân hạng là một kim loại, như sắt hay vàng. Tuy nhiên, khi thủy ngân xâm nhập vào không khí hay nước, nó
có thể trở thành độc hại. Chung cuộc, thủy ngân có trong những con cá chúng ta ăn – cá
do ta câu được, cá mua ở chợ hay gọi ở tiệm ăn.

-3-
Hầu hết thủy ngân làm ô nhiễm không khí và nước là do việc khai thác các mỏ than và từ
các nhà máy điện chạy bằng than. Thủy ngân cũng có trong nhà ta ở. Những đèn huỳnh quang mà ta thường gọi là đèn “nê-ông”, những nhiệt kế và những máy điều nhiệt để điều khiển lò sưởi và máy lạnh đều có thủy ngân.

-4-
Tại sao thủy ngân lại nguy hiểm? Đối với người lớn, quá nhiều thủy ngân có thể làm hư thận hay ảnh hưởng đến hệ thần kinh bao gồm não bộ và tủy sống.

-5-
Những phụ nữ có thai, những trẻ sơ sinh còn bú mẹ và các em nhỏ là bị nguy hiểm nhất, bởi vì một lượng nhỏ thủy ngân có thể gây hại cho não bộ đang phát triển. Quá nhiều
thủy ngân có thể ảnh hưởng đến tính tình đứa bé và đưa tới những vấn đề trong việc học hành sau này.

-6-
Ăn cá thì lành mạnh cho mọi lứa tuổi vì cá có prô-tê-in, sinh tố, khoáng chất và chất béo.
Điều không may là ta không thể loại bỏ thủy ngân bằng cách nấu chín hay rửa sạch con cá. Tuy nhiên, ta có thể loại bỏ các chất ô nhiễm khác trong con cá bằng cách cắt bỏ mỡ cá.

-7-
Để giảm thiểu số lượng thủy ngân xâm nhập vào cơ thể, điều quan trọng là phải nghĩ tới loại cá nào ta ăn và bao lâu ta lại ăn. Những con cá lớn, cá đã sống lâu và cá nhiều chất béo thường có nhiều chất độc hơn. Những con cá sống nhờ ăn thịt những con cá khác – như walleye, northern pike và bass – có nhiều thủy ngân nhất trong thịt của nó. Cũng như
chúng ta, khi những con cá này ăn đồ ăn có thủy ngân thì thủy ngân trở thành một phần của cơ thể chúng.
-8-
Một cách khác để thủy ngân khỏi làm hại đến sức khỏe là giảm thiểu số lượng thủy ngân xâm nhập vào môi trường của chúng ta. Thủy ngân có trong một số vật dụng thông
thường trong nhà như nhiệt kế, máy điều nhiệt và đèn huỳnh quang. Không bao giờ được
bỏ những vật dụng này vào thùng rác. Đa số các quận có một chỗ đặc biệt gọi là “địa
điểm thu nhận những phế vật gia dụng nguy hiểm” (“household hazardous waste sites”), quý vị có thể mang những vật dụng này đến đó để phế bỏ đúng cách.

-9-
Đèn huỳnh quang dùng ít năng lượng nên bớt được tiền điện, nhưng bóng đèn này lại có thủy ngân. Do đó, khi đèn huỳnh quang bị hư không dùng được nữa, ta không được vứt vào thùng
rác mà phải đem đến địa điểm thu nhận những phế vật gia dụng nguy hiểm của quận.

-10-
Một trong những cách tốt nhất để không có thủy ngân trong nhà hay trong môi trường là đừng mua những món đồ có thủy ngân. Tính toán để giảm bớt thủy ngân trong đồ ăn và trong môi trường sẽ giúp cải thiện sức khỏe và cộng đồng của chúng ta. Càng ít thủy
ngân trong không khí và nước, những sông và hồ sẽ càng lành mạnh và sạch sẽ để mọi người cùng hưởng!
__________________
Những vụ án thủy ngân
Hàng ngàn năm trước con người đã biết đến thủy ngân. Thời kỳ đó, người Trung Hoa, Ấn Độ cho rằng thủy ngân là một loại thần dược giúp con người trường sinh bất lão, chữa lành vết thương và duy trì sức khỏe. Người La Mã sử dụng thứ chất lỏng lấp lánh này để chế ra các loại mỹ phẩm. Vì thế, thủy ngân đã có “cơ hội” trở thành thủ phạm của những vụ án nghiêm trọng.

1. “ Nước Bạc ” thời cổ đại :
Với tính chất lỏng và có ánh kim, thủy ngân đã được một thầy thuốc người Hy Lạp đặt cho cái tên “nước bạc”. Theo tiếng Latinh, kim loại này có tên là hydrargyrum. Ở châu Âu, nó lại được lấy theo tên của một vị thần La Mã – thần Mercury. Trong nhiều tài liệu cổ, người ta đã đề cập đến tác dụng chữa bệnh của thủy ngân. Các thầy thuốc thời xưa mô tả cách họ điều trị bệnh nhân bị xoắn ruột bằng cách rót một lượng thủy ngân chừng hơn 200g vào dạ dày người bệnh. Họ cho rằng “nước bạc” nặng và linh động sẽ luồn lách trong ruột để nắn lại các đoạn ruột bị xoắn. Hậu quả của cách chữa bệnh theo cảm tính này thế nào, chúng ta đã biết.

Hàng thế kỷ sau đó, thủy ngân vẫn được “trọng dụng” để chữa bệnh. Thủy ngân sử dụng để điều trị bệnh giang mai vào thế kỷ 16, trước khi có các chất kháng sinh. Trong suốt thế kỷ 19, loại thần dược có tên là “Blue mass” là một dạng thuốc viên thành phần chính là thủy ngân, đã được các thầy thuốc dùng để điều trị các bệnh như táo bón, trầm cảm, đau răng và thậm chí dùng trong việc sinh nở. Cho đến đầu thế kỷ 20, thủy ngân được cấp phát cho trẻ em hằng năm như là thuốc nhuận tràng và tẩy giun.

2. Những vụ án kinh hoàng :
Việc sử dụng thủy ngân sai trong quá khứ đã dẫn đến những hậu quả khôn lường. Những nạn nhân đầu tiên có lẽ là các nhà giả kim thuật.
Từ thời cổ đại, các nhà giả kim thuật đã biết sử dụng thủy ngân để chế ra một số kim loại khác, đặc biệt là vàng. Trong những “phòng thí nghiệm” sơ sài, các nhà giả kim Trung Hoa, Ai Cập, Ả Rập ngày đêm “chung sống” với thứ chất lỏng kỳ lạ để mong tìm được “bí quyết” chế ra vàng. Họ không biết rằng, hơi thủy ngân đã xâm nhập đường hô hấp, ngấm qua da… vào cơ thể họ. Hậu quả cuối cùng, họ đều mắc những chứng bệnh kỳ lạ như ảo giác, ám ảnh, cơ thể suy nhược và chết một cách bí hiểm. Công trình mạ mái vòm nhà thờ Isaac ở Petecbua (Nga) đã cướp đi hàng chục sinh mạng người thợ. Vì thủy ngân có khả năng hòa tan nhiều kim loại, tạo thành các “hỗn hống” (amalgam), người ta đã đem hơn 100kg vàng nguyên chất, hòa tan trong thủy ngân thành hỗn hống, sau đó đem tráng lên những tấm đồng đường kính lớn hàng chục mét. Sau đó đem các tấm đồng này nung nóng trên những cái lò đặc biệt cho đến khi thủy ngân bốc hơi hết và để lại một lớp vàng rất mỏng trên tấm đồng. Những người thợ làm vòm nhà thờ khi đó dù được trang bị bảo hộ bằng
quần áo lao động và che mặt bằng một tấm kính để chống hơi độc và sức nóng. Song, những điều đó cũng không ngăn được thứ hơi độc chết người màu xanh nhạt xâm nhập cơ thể họ. Tất cả hơn 10 người thợ đã chết vì những căn bệnh bí hiểm mà không ai biết thủ phạm. Thời đó, người ta đã thêu dệt nên những câu chuyện liên quan đến ma quỷ trong vụ án này.

Những cơn điên loạn và cái chết của vị Sa hoàng Ivan IV Vasilyevich (1530 – 1564) là một bí ẩn mà gần đây mới được giải mã. Các tài liệu ghi lại ông vua này có một sức khỏe bình thường, nhưng sau đó mắc chứng bệnh kỳ lạ, thỉnh thoảng lên cơn điên loạn. Trong một cơn cuồng nộ như thế, ông ta đã giết chết chính con trai của mình. Ông ta thường xuyên bị ám ảnh bởi những ảo giác, luôn nghi ngờ xung quanh và lúc nào cũng run sợ vì cho rằng tai họa đang rình rập xung quanh. Khi đó người ta cho rằng ông bị quỷ ám. Nhưng việc khai quật hài cốt của ông do các nhà khoa học tiến hành sau này đã cho thấy thủ phạm chính là thủy ngân. Nguyên nhân là do ông bị mắc chứng đau nhức xương, ông được các ngự y kê đơn cho sử dụng nhiều loại thuốc mỡ chứa thủy ngân trong một thời gian dài. Ông đã bị ngộ độc do một lượng lớn thủy ngân ngấm vào cơ thể. Xét nghiệm cho thấy hàm lượng thủy ngân trong xương của nhà vua rất cao.
Các nhà sử học từng nghiên cứu các kho lưu trữ của thế kỷ XVII đã khẳng định, sự nhiễm độc thủy ngân cũng là nguyên nhân gây nên cái chết của vua Carl (Charles) II thuộc triều đại Stuart ở nước Anh. Vì quá say mê những ý tưởng giả kim thuật, nhà vua đã trang bị một phòng thí nghiệm trong cung đình; tại đó, ông ta đã sử dụng tất cả thời gian rỗi để nung thủy ngân. Các nhà bác học đã tìm được những tài liệu, trong đó mô tả các triệu chứng bệnh tật của Carl II như tính cáu gắt, chứng co giật, bệnh niệu độc (bệnh đái ra các chất độc) kinh niên. Các bệnh này do tác động lâu dài của hơi thủy ngân gây ra. Mặc dầu các vị ngự y đã thử dùng đủ mọi phương thuốc hiệu nghiệm nhất của y học thời bấy giờ: hút máu, uống ký ninh nhưng vẫn không thể cứu được nhà vua.
__________________
Thảm họa minamata !!
Đến tận thế kỷ 20, thủy ngân vẫn gây những vụ án kinh hoàng tại nhiều nơi. Tại Nhật Bản – đất nước có nền công nghiệp phát triển cũng đã từng chấn động do thảm họa thủy ngân, mà người ta hay gọi là thảm họa Minamata.

Vào đầu những năm 1950, nhiều người dân ở khu vực Minamata – một khu vực chuyên về đánh bắt thủy sản ở phía Nam Nhật Bản bị mắc những chứng bệnh lạ như run rẩy chân tay, bại liệt, mất trí nhớ, một số trường hợp bị tử vong. Các nhà chức trách phát hiện ra chất thải công nghiệp có chứa thủy ngân của công ty sản xuất hóa chất Chisso đã làm cho các loài hải sản vùng biển này bị nhiễm thủy ngân. Người dân ở đây đánh bắt và sử dụng các loại hải sản đó và bị nhiễm độc thủy ngân. Khoảng trên 3.000 người đã có những khuyết tật nào đó hay có triệu chứng ngộ độc thủy ngân nặng nề hoặc đã chết vì ngộ độc.
Năm 1965, một vụ nhiễm độc trên diện rộng ở Nigata cũng xảy ra tương tự như ở Minamata và thủ phạm là chất thải chứa thủy ngân của một công ty khai khoáng trên địa bàn. Năm 2001, có khoảng 1.700 trong số 2.200 người bị chết vì bị ảnh hưởng bởi độc chất từ nhà máy hóa chất ở miền Nam Nhật Bản, là do bị ngộ độc vì ăn cá ở địa phương.
Và mới đây, một quan chức Nhật Bản cho biết thịt cá voi và cá heo cung cấp cho các buổi ăn trưa tại những trường học trên toàn nước này đã nhiễm một lượng thủy ngân vượt quá xa tiêu chuẩn cho phép của Bộ Y tế.
Ngày nay, với tốc độ phát triển của các nền công nghiệp hiện đại, người ta càng lo ngại đến nguy cơ nhiễm độc thủy ngân. Tuy vậy, cũng phải đánh giá một cách công bằng. Thủy ngân chính là một “người bạn” thuộc dạng lâu năm nhất của con người và mang lại nhiều lợi ích nếu biết sử dụng đúng đắn. Thủy ngân là tác nhân chủ yếu trong nhiều khí cụ vật lý: áp kế kỹ thuật, khí áp kế, bơm chân không. Nhiệt kế thủy ngân là một trong những thiết bị phổ dụng nhất trên thế giới. Đèn thủy ngân – thạch anh tạo ra bức xạ tử ngoại rất mạnh được sử dụng rộng rãi trong y học và trong công nghiệp hóa học…

Theo vietnamchemtech.com.vn