Blog Archives

Ảnh huởng hiệu ứng nhà kính

Advertisements

Về cacbon

  • Khí CO2 được dùng dập tắt đám cháy vì khí này nặng hơn không khí và không tác dụng với oxi nên nó có tác dụng ngăn không cho vật cháy tiếp xúc với không khí.
  • Đã có một số trường hợp tử vong do ủ than trong nhà đóng kín cửa. Đó là nồng độ khí CO sinh ra từ bếp than ủ kín trong phòng quá mức cho phép. Khí này kết hợp với hemoglobin trong máu ngăn không cho máu nhận oxi và cung cấp oxi cho các tế bào => gây tử vong cho con người
  • “Viên sủi” cho vào nước lại sủi bọt! vì trong viên sủi có một ít bột NaHCO3 và bôt axit hữu cơ như axit citric. Khi viên sủi găp nước tạo ra dd axit,dd axit tác dụng với NaHCO3 sinh ra khí CO2. Khí này thoát ra khỏi cốc nước dưới dạng bọt khí.
  • Than ướt cháy tốt hơn than khô: trong phân tử nước chứa 2 ng tử H và 1 ng tử O. Khi nước gặp than bốc cháy, oxi trong nước bị C chiếm mất, sinh ra CO và H2 cháy tốt hơn than khô.
  • Hầm chứa rau làm ngạt thở chết người: thực vật hô hấp sinh ra CO2, tích tụ lâu trong hầm gây ngạt thở cho người đi vào.
  • Băng khô: không phải là băng là mà là do CO2 đông lại mà thành, dễ tạo khói dùng trong kĩ thuật điện ảnh
  • Người ta không dùng CO2 dập tắt các đám cháy kim loại như Na, Mg… vì khi gặp CO2, các KL mạnh như Na, Mg… phản ứng mãnh liệt :

CO2 + 2Mg –> 2MgO + 2C
CO2 + 4Na –> 2Na2O + C

  • Khí CO : khi gặp Hemoglobin trong máu, CO sẽ gắn chặt với Hb tạo ra carboxyhemoglobin, ngăn không cho tiếp xúc với oxy —> có thể dẫn đến tử vong.

Diễn đàn H2VN

Sản xuất kim cương nhân tạo cỡ lớn

Phương pháp chế tạo kim cương của nhóm cũng tuân theo phương pháp lắng bay hơi hoá học (CVD) thường được sử dụng kim cương nhân tạo. Theo phương pháp này các nguyên tử cácbon trong một chất khí sẽ được làm lắng trên một bề mặt để tạo ra các tinh thể kim cương.

Quy trình CVD cho phép sản xuất ra kim cương một cách nhanh chóng, nhưng những tạp chất của chất khí cũng sẽ bị hấp thụ và kim cương sẽ có những vệt nâu. Có thể làm sạch những tạp chất này bằng cách xử lý dưới áp xuất cao, nhiệt độ cao. Mặc dù phương pháp xử lý này có chi phí rất cao nhưng chỉ có thể sản xuất ra những hạt kim cương tương đối nhỏ. Cho tới nay, hạt kim cương màu vàng lớn nhất được sản xuất theo cách này chỉ đạt kích cỡ 34 carat.

Ở công trình nghiên cứu của nhóm, các nhà nghiên cứu đã đạt tới giới hạn kích thước bằng cách sử dụng vi sóng để “nấu” các hạt kim cương trong môi trường hydro plasma ở nhiệt độ 2200 độ C nhưng dưới áp xuất thấp. Kích thước của hạt kim cương hiện chỉ bị giới hạn ở kích thước của lò vi sóng mà nhóm sử dụng.

Nhóm nghiên cứu cho biết, khía cạnh tiến bộ nhất của quy trình tôi luyện mới này là có thể xử lý các tinh thể kim cương không hạn chế về kích thước. Cú đột phá này sẽ cho phép nhóm tiến hành sản xuất hàng kilocarat kim cương có chất lượng cao. Hơn nữa, sử dụng lò vi sóng sẽ rẻ hơn nhiều so với sử dụng các dụng cụ áp xuất cao có kích thước lớn. Ngoài ra, kim cương tổng hợp theo phương pháp này cũng chứa ít tạp chất hơn kim cương tự nhiên.

NACESTI (Theo Newscientist, 13/11/2008)

Trích – http://www.vista.gov.vn/pls/portal/PORTAL.wwv_media.show?p_id=506189&p_settingssetid=1&p_settingssiteid=33&p_siteid=33&p_type=basetext&p_textid=506190

Dùng hạt chà là để giảm thiểu ô nhiễm không khí và nước

3/2/2009

Nghiên cứu mới của hoàng tử Abdulrahman Bandar Al-Saud cho thấy hàng triệu hạt chà là sẵn có ở Saudi Arabia được sử dụng mỗi năm để giảm thiểu ô nhiễm không khí và nước.
Nghiên cứu của HRH Abdulrahman Bandar Al-Saud – cháu trai của nhà vua – dựa trên giả thuyết hạt chà là có thể sử dụng để phát triển carbon hoạt hoá với lực hút bám cao.

Carbon hoạt hoá là một dạng nguyên tố đã được xử lý để làm cho nó xốp giúp bề mặt rộng lớn có thể bám hút được*.

Sau đó nó có thể được sử dụng để loại bỏ các chất ô nhiễm – một lĩnh vực có ý nghĩa quan trọng của Saudi Arabia khi quản lý tài nguyên nước.

Giá của carbon hoạt tính cao có nghĩa các nhà nghiên cứu cần xem xét kỹ các phương pháp tạo ra nguyên tố từ các sản phẩm rác thải.

Hạt chà là có thuộc tính hút bám, có thể phù hợp và mọi người hi vọng kết quả nghiên cứu của hoàng tử sẽ hiệu quả như những sản phẩm carbon hoạt tính có giá đắt hơn.

Abdulrahman Bandar Al-Saud giải thích: “Mục đích của nghiên cứu là loại bỏ kim loại nặng từ các khu công nghiệp thải ra và nhiều ô nhiễm khác như màu sắc”.

“Khai thác carbon sẽ được kiểm tra qua một loạt hệ thống trước khi được thử nghiệm trong một dự án thí điểm và cuối cùng ứng dụng cho toàn bộ ngành công nghiệp. Kết quả sẽ được làm mẫu chính xác để có thể dự đoán hiệu quả của quá trình xử lý”, hoàng tử 34 tuổi nói.

Abdulrahman Bandar Al-Saud được các nhà nghiên cứu hàng đầu thế giới tới từ Đại học Queen’s Belfast mời tham dự tại Saudi Arabia tuần này, một thành viên của Nhóm Russell trong 20 đại học nghiên cứu chuyên sâu hàng đầu của Vương quốc Anh.

Với lời mời của hoàng tử, thành viên của Đại học Queen’s có cuộc họp với các nhà tư bản công nghiệp có thế lực và các trường đại học hàng đầu để tìm hiểu vể việc trao đổi học tập của nhân viên, liên kết đào tạo sinh viên sau đại học và đào tạo nhân viên tới từ các trường đại học Saudi thành chuyên gia nghiên cứu.

Giáo sư Robbie Burch, Hiệu trưởng Đại học Hoá học&Kỹ thuật Ứng dụng Hoá học, nói: “Kết quả nghiên cứu gần đây được thực hiện tại các trường đại học của Vương quốc Anh đã đưa Đại học Queen’s- về Hoá học&Kỹ thuật Ứng dụng Hóa học vào 20 trường hàng đầu của Anh Quốc. Đây là cơ hội kịp thời để gặp gỡ cán bộ cấp cao của ba trường đại học hàng đầu của Saudi Arabia, mở rộng các chương trình nghiên cứu quốc tế của chúng tôi”.

“Mối quan hệ hiện tại với hoàng tử Abdulrahman đem lại cho chúng tôi sự tin cậy tại Saudi Arabia và dễ dàng tổ chức các cuộc họp để thảo luận nghiên cứu các lĩnh vực quan tâm trong suốt chuyến viếng thăm. Mục tiêu dài hạn là phát triển hợp tác với Saudi Arabia, so sánh với quan hệ chúng ta hiện có với các quốc gia như Malaysia”, ông nói thêm.

HRH Abdulrahman Bandar Al-Saud là một trong nhiều sinh viên Saudi Arabia học tập tại Đại học Queen’s Belfast- Đại học về Hoá học&Kỹ thuật Ứng dụng Hoá học Vương quốc Anh. Hiện trường dành 259 triệu bảng Anh phục vụ tiện nghi cho cán bộ, sinh viên và nghiên cứu, chương trình giảng dạy.

Hoàng tử quyết định tới Đại học Queen’s để thực hiện nghiên cứu của ông vì mục đích nghiên cứu của trường rất tốt.

Ông nói: “Tôi chọn Đại học Queen’s Belfast vì danh tiếng xuất sắc của trường về kỹ thuật ứng dụng và thành tích về nghiên cứu kỹ thuật ứng dụng hoá học. Bắc Ireland là khu vực thường bị bỏ qua, có nhiều cơ hội cho các sinh viên tới từ Saudi Arabia.

Hiệu trưởng của Trường Giáo sư Robbie Burch – Giáo sư Chris Hardacre, Giám đốc Trung tâm Nghiên cứu CenTACat (Trung tâm Học thuyết&Ứng dụng Sự xúc tác), và người giám sát của hoàng tử, tiến sĩ Mohammad Ahmed – sẽ gặp gỡ các cán bộ cấp cao và các bộ trưởng tại Đại học King Saud, King Abdul Aziz và Đại học Fahd về Dầu mỏ&Khoáng sản.

…………………………………………..

*Chú ý: Không được nhầm lẫn với sự hấp thụ, sự bám hút là một quá trình xảy ra khi một chất khí hay chất lỏng tích luỹ trên bề mặt của chất rắn hay chất lỏng (hút bám), tạo thành một mảng phân tử hay nguyên tử (chất hút bám). Nó khác với sự hấp thụ, trong đó một chất được khuếch tán trong chất lỏng hoặc chất rắn dạng hoà tan.

Vietbao.vn

Sự xuất hiện carbonat trong nước

Nước tự nhiên bao gồm nước biển, sông ngòi, ao hồ, nước ngầm tiếp xúc với ba quyển của quả đất là khí quyển, địa quyển và sinh quyển. Đặc biệt các đại dương với diện tích và thể tích rất lớn là một bể chứa và vận chuyển rất nhiều loại hoá chất đi đến khắp nơi.

Thành phần của nước tự nhiên được quyết định bởi các quá trình địa hóa và sinh học gồm nhiều loại acid và baz chủ yếu tạo bởi các nguyên tố có trong cơ thể sống mà quan trọng nhất là carbon dưới dạng CO2 , HCO3-, CO32- .

Hệ carbonat phải được tính đến trong toàn bộ môi trường bao gồm khí quyển ,địa quyển, sinh quyển và thủy quyển. Các quá trình quang tổng hợp và hô hấp của các loài động vật tạo nên một chu trình toàn cầu trong đó carbon trao đổi chậm giữa địa quyển và khí quyển và nhanh hơn giữa khí quyển và các đại dương.

Nguồn phân bố carbon trong quả đất bao gồm: nguồn trầm tích, đất bề mặt, đại dương và khí quyển.


Sự xuất hiện các dạng carbonat trong nước tự nhiên do nhiều nguyên nhân như: sự hoà tan khí CO2 từ khí quyển vào nước, nước tự nhiên chảy qua các vùng trầm tích, vùng đất bề mặt có chứa carbon hữu cơ hoặc sự hòa tan các muối carbonat, …

Khí CO2 tồn tại trong khí quyển với lượng tương đối nhỏ, chiếm khoảng 0,032% về thể tích, tương ứng với áp suất riêng phần của CO2 là PCO2 =10-3,5 atm, có nguồn gốc từ các hoạt động công nghiệp như đốt cháy nhiên liệu hoá thạch, than đá, dầu …Đặc biệt, việc phá hủy các khu rừng nhiệt đới đã làm gia tăng nghiêm trọng hàm lượng CO2 trong khí quyển. Có khoảng 30-50% CO2 sinh ra do quá trình công nghiệp hoá lưu lại trong khí quyển ,số còn lại luân chuyển vào thủy quyển và sinh quyển. Bản thân các đại dương là môi trường kiềm yếu nên có khả năng hấp thu khí CO2 để chuyển thành HCO3- và vì vậy, các đại dương chiếm một lượng carbon vô cơ lớn gấp 60 lần so với lượng carbon vô cơ trong khí quyển .
Hằng năm có khoảng 54.1014 mol CO2 được cây xanh sử dụng cho quá trình quang tổng hợp và 0.05% trong số này được hoàn trả lại do sự hô hấp vào ban đêm và sự oxi hoá các chất hữu cơ.
Các đá vôi thuộc thời tiền địa chất có lẽ được hình thành bởi phản ứng của silicat và khí carbonic :
CaSiO3 + CO2 —-> CaCO3 +SiO2.

Nguồn trầm tích chứa hàm lượng carbonat rất cao khoảng 28500 lần so với nguồn CO2 từ khí quyển. Carbonat chiếm phần lớn trong nước tự nhiên do trầm tích là nguồn cung cấp chủ yếu thành phần carbon dưới dạng CO2 hoà tan , HCO3-, CO32-.

Sự hòa tan các muối carbonat cũng góp phần không nhỏ hình thành các dạng carbonat trong nước tự nhiên .
CaCO3 + H2O + CO2 = Ca 2+ + 2 HCO3 –
NaAlSiO8 + 11/2 H2O + CO2 = Na+ + HCO3- + 1/2Al2Si2O5(OH)4

Bảng 1:Sự phân bố carbon trong quả đất.

Nguồn
Mol C.1018
So với khí quyển
Trầm tích
Carbonat 1530

Carbon hữu cơ 572

28500

10600

Đất bề mặt
Carbon hữu cơ 0,065
1,12
Đại dương
CO2+H2CO3 0,018

HCO3- 2,6

CO32- 0,33

Động thực vật chết 0,23

Động thực vật sống 0 0,0007

0,3

48,7

6,0

4,4

0,01

Khí quyển
CO2 0 0,05351
1,0

Chính hệ carbonat này là nguồn tạo khả năng đệm lớn nhất cho các đại dương.

Bảng 2: Các hệ đệm trong nước tự nhiên (M)

Baz
Nước ngọt
Nước bề mặt
Dưới lòng Đại Tây Dương
Dưới lòng Thái Bình Dương
Carbonat
970
2100
2300
2500
Silicat
220
30
150
Ammoniat
1-10
<500
<500
<500
Phosphat
0,7
<0,2
1,7
2,5
Borat
1
0,4
0,4
0,4

Nước biển dâng tác động tới chu trình carbon toàn cầu

06/01/2009, 10:35:29 AM

Kết hợp phân tích với những đánh giá hiện tại về sự trao đổi carbon giữa đại dương và khí quyển, các nhà khoa học đưa ra kết luận việc mở rộng bề mặt biển có tác động quan trọng tới chu trình carbon toàn cầu theo đường bơm thềm lục địa.

Kết hợp phân tích với những đánh giá hiện tại về sự trao đổi carbon giữa đại  dương và khí quyển, các nhà khoa học đưa ra kết luận việc mở rộng bề mặt biển có tác động quan trọng tới chu trình carbon toàn cầu theo đường bơm thềm lục địa, bất chấp việc bơm yếu hơn nhiều lần khi các mặt biển nông hơn xuất hiện.

Từ Kỷ Băng Hà (LGM; khoảng 21.000 năm trước) mực nước biển đã dâng 130 m (430 feet), kết quả của việc làm ngập thềm lục địa và mở rộng quy mô lớn của diện tích mặt biển.

Biển chỉ chiếm khoảng 7 phần trăm diện tích bề mặt đại dương nhưng nhiều theo dõi gần đây chứng minh chúng có ý nghĩa quan trọng trong việc trao đổi carbon dioxide (CO2) giữa đại dương và khí quyển.

Ngoài ra, sự phân huỷ và hạt carbon được cho là được di chuyển từ bề mặt xuống đầm lầy dưới đáy đại dương thông qua cơ chế gọi là “sự bơm thềm lục địa”.

Bằng việc tái dựng lại sự kéo dài liên tục về mặt địa lý của LGM, Rippeth et al. phân tích ảnh hưởng của sự tăng mực nước biển và hậu quả tất nhiên là lũ lụt gia tăng.

Thu Hằng (theo ScienceDaily)