Blog Archives

Giải thưởng Nobel Hóa học

Nói về gia đình huyền thoại Curie là phải nói đến các giải thưởng Nobel , mà nói đến giải Nobel mà không nói về lịch sử của giải thưởng và người sáng lập nên giải thưởng Alfred Nobel. thì thật là thiếu sót . happy

ALFRED NOBEL

Alfred Nobel sinh ngày 21/10/1833 tại Stockholm, Thuỵ Điển, trong một gia đình có nhiều thành viên làm kỹ sư. Khi lên 9 tuổi, ông theo gia đình tới Nga. Tại đó, ông và anh em trai được các gia sư dạy những bài học đầu tiên về lòng nhân đạo và khoa học tự nhiên. Khi còn trẻ, ông đi nhiều nơi và thông thạo 5 ngôn ngữ. Nobel quan tâm tới văn học. Ông đã viết một số tiểu thuyết, thơ và kịch vào thời gian rỗi. Vào năm 1960, ông bắt đầu tiến hành các thí nghiệm với nitroglycerin trong nhà máy của cha đẻ, Immanuel Nobel.

Nobel phát đã thử nhiều cách để ổn định loại vật liệu không ổn định này. Cuối cùng ông phát hiện trộn nitroglycerin với một loại bột mịn, xốp có tên kieselguhr là hiệu quả nhất. Ông đặt tên cho hỗn hợp trên là dynamite và nhận được bằng sáng chế vào năm 1867. Nobel xây dựng nhà máy khắp thế giới để sản xuất dynamite và các loại thuốc nổ khác. Các công ty xây dựng và khai thác mỏ cũng như quân đội cần rất nhiều loại thuốc nổ tương đối an toàn này. Dynamite đã mang lại cho Nobel nhiều tiền. Những nghiên cứu khác của ông đã cung cấp thông tin giá trị về sự phát triển của cao su nhân tạo, da, tơ và đá quý.

GIẢI THƯỞNG CAO QUÝ : NOBEL

Vào ngày 27/11/1895, Nobel ký di chúc cuối cùng tại Câu lạc bộ Thuỵ Điển-Na Uy ở Paris, Pháp. Ông qua đời do mắc bệnh xuất huyết não tại nhà riêng ở San Remo, Italia vào ngày 10/12/1896. Ông để lại một khoản tiền 9 triệu USD trong di chúc. Lãi suất của nó sẽ được sử dụng làm phần thưởng cho những người mà nghiên cứu của họ có lợi nhất cho nhân loại.

Hiệp hội Nobel được thành lập vào năm 1900 theo di chúc của Alfred Nobel. Đó là một tổ chức tư nhân quản lý các tài sản mà Nobel di chúc lại làm phần thưởng cho những cá nhân đoạt giải Nobel hoá học, vật lý, tâm lý học hoặc y học, văn học và hoà bình.

Nobel là giải thưởng quốc tế đầu tiên, vinh dự nhất, được trao hàng năm theo ý nguyện Alfred Bernhard Nobel – nhà hoá học, kỹ sư và đồng thời là một nhà tư bản người Thuỵ Điển – cho những cá nhân đã có đóng góp nổi bật nhất trong lĩnh vực vật lý, hoá học, tâm lý học hoặc y học; cá nhân đóng góp nhiều nhất cho hoà bình thế giới và người đã viết tác phẩm văn học xuất sắc nhất. Lễ trao giải chính thức diễn ra vào ngày 10/12 hàng năm – ngày Nobel qua đời. Tuy nhiên, tên của người giành giải thưởng được công bố vào tháng 10 bởi các tổ chức khác nhau.

Bổ sung 1 thông tin thú vị : Sở dĩ có giải Nobel Văn Học nhưng không có giải Nobel Toán học vì hồi còn nhỏ Nobel yêu thich Khoa học và Văn Học và đã từng có ý định theo nghiệp văn chương ( còn Toán học thì ông không có hứng thú ) , may sao cuối cùng ông đã có 1 quyết định sáng suốt là theo nghiệp Khoa học.
Nguyên nhân Toán học không có giải Nobel :
Giai thoại cho rằng Alfred Nobel, vốn độc thân suốt đời, đã từ chối tôn vinh các nhà toán học, vì e rằng một ngày nào đấy, phần thưởng sẽ về tay Gosta Magnus Mittag – Leffler, một nhà toán học Thụy Điển, đã ăn cắp trái tim của nàng Sophie Hess, nhân tình của ông.
Để lấy lại công bằng cho một khoa học cơ bản, giải thưởng cao quý nhất dành cho toán học mang tên Fields đã ra đời năm 1936 ở Toronto, Canada, theo sáng kiến của Giáo sư John Charles Fields. Giải Fields trao 4 năm một lần, trị giá khá khiêm tốn: 1.500 euro.

Tiến trình lựa chọn những người được giải

Việc lựa chọn người giành giải tưởng bắt đầu vào đầu mùa thu của năm trước khi các tổ chức trao giải mời hơn 6.000 người khắp thế giới đề cử cá nhân xứng đáng nhận các giải Nobel. Có khoảng 1.000 người đề cử cho mỗi giải thưởng. Họ là những người đã từng nhận giải Nobel, thành viên của chính tổ chức trao thưởng, các chuyên gia trong lĩnh vực vật lý, hoá học, tâm lý học hoặc y học, các quan chức và thành viên của nhiều trường đại học và các viện nghiên cứu. Người được mời phải đề cử bằng văn bản, nêu rõ lý do lựa chọn. Các cá nhân không thể tự đề cử (trái ngược hoàn toàn với giải Ig Nobel).

Văn bản đề cử phải được trình lên các uỷ ban Nobel trước ngày 31/1 của năm trao giải. Uỷ ban Nobel do 4 tổ chức trao giải lập ra. Thường có khoảng 100-250 người được đề cử cho mỗi giải. Vào ngày 1/2, 6 Uỷ ban Nobel – mỗi uỷ ban quyết định một loại giải thưởng – bắt đầu xem xét các văn bản đề cử mà họ nhận được. Có hàng nghìn người, chủ yếu là chuyên gia bên ngoài, tham gia cùng với các uỷ ban để quyết định tính sáng tạo và tầm quan trọng liên quan tới đóng góp của người được đề cử.

Vào tháng 9 và đầu tháng 10, các uỷ ban Nobel sẵn sàng đệ trình ý kiến lựa chọn của họ lên Viện hàn lâm khoa học Hoàng gia Thuỵ Điển và các tổ chức trao thưởng khác. Không phải lúc nào các tổ chức trao thưởng cũng làm theo sự tiến cử của uỷ ban. Các phiên họp và bỏ phiếu trong các tổ chức trao giải được giữ bí mật ở mọi khâu. Chỉ có kết quả được thông báo công khai. Quyết định cuối cùng của các tổ chức phải được đưa ra trước ngày 15/11 và không thể thay đổi. Giải thưởng chỉ được trao cho các cá nhân, ngoại trừ giải Nobel Hoà Bình. Nobel Hoà bình có thể được trao cho một tổ chức.

Theo điều lệ của Hiệp hội Nobel, thông tin đề cử sẽ không được tiết lộ, dù là công khai hoặc bí mật, trong thời gian 50 năm. Không thể đề cử một cá nhân sau khi người đó đã chết. Kể từ năm 1974, giải thưởng Nobel chỉ có thể được trao cho một người đã chết trong trường hợp cá nhân đó đã được chọn là người nhận giải của năm vào thời điểm còn sống song qua đời trước lễ trao giải vào ngày 10/12. Sự ủng hộ chính thức, dù là ngoại giao hay chính trị, cho một người nào đó không có tác động tới tiến trình lựa chọn bởi các tổ chức trao giải độc lập với nhà nước.

Giải thưởng

Mỗi giải thưởng bao gồm một huy chương vàng, một bằng khen và một khoản tiền. Số tiền phụ thuộc vào thu nhập của Hiệp hội Nobel. Ban đầu, hơn ba người có thể cùng nhận một giải Nobel mặc dầu điều này chưa bao giờ xảy ra. Điều lệ của Tổ chức Nobel được sửa đổi vào năm 1968, hạn chế chỉ có 3 người đồng nhận một giải thưởng. Trong trường hợp đó, mỗi người có thể nhận 1/3 khoản tiền hoặc 2 người có thể chia nhau 50% số tiền thưởng trong khi người thứ ba nhận 50% còn lại. Thỉnh thoảng một giải Nobel bị giữ lại cho tới năm sau. Nếu chưa được trao, số tiền thưởng sẽ được trả lại quỹ. Do vậy, hai giải thưởng cùng loại (chẳng hạn 2 giải vật lý) có thể được trao trong một năm.

Nếu một giải thưởng bị từ chối hoặc không được chấp nhận trước một thời điểm nhất định, số tiền thưởng sẽ được trả vào quỹ. Trong quá khứ, đã có trường hợp người giành giải từ chối nhận phần thưởng và chính phủ cấm công dân nước họ nhận thưởng. Khi đó, bên cạnh tên của người nhận giải trong danh sách những người giành giải Nobel sẽ có dòng chữ ”từ chối nhận giải”.

Động cơ dẫn tới hành động từ chối nhận giải Nobel có thể khác nhau song lý do thực sự chủ yếu là áp lực bên ngoài. Chẳng hạn vào năm 1937, Adolf Hitler cấm người Đức nhận giải Nobel trong tương lai bởi ông ta tức giận khi Giải Nobel Hoà bình 1935 được trao cho nhà báo chống phát xít Carl von Ossietzky. Vào thời điểm đó, Carl von Ossietzky là tù chính trị tại Đức. Trong một số trường hợp, người từ chối giải thích và chỉ nhận huy chương vàng cùng với bằng khen. Giải Nobel vật lý, hoá học, tâm lý học hoặc y học ít gây tranh cãi nhất. Do bản chất, Nobel văn học và hoà bình gây tranh cãi nhiều nhất. Cho tới nay, giải Nobel không được trao vào năm 1940, 1941 và 1942. Giải Nobel văn học không được trao vào năm 1914, 1918 và 1943.

Cụ thể hơn về giải thưởng :
Một tấm bằng, Huy chương Nobel do Erik Lindberg thực hiện năm 1902: chân dung Nobel trên nền phúng dụ Tự nhiên và Khoa học, một món tiền (thay đổi tùy theo lãi của vốn Quỹ Nobel). Theo tính toán của Nobel, những năm đầu, mỗi giải thưởng tương đương 15 năm lương của một giáo sư đại học. Năm 1948, mỗi giải trị giá 32.000 USD. Năm 1980, 210.000 USD. Cuối những năm 1990 là 1 triệu USD. Và năm nay là 1,36 triệu USD.

Giải Nobel đã thực sự công bằng hay chưa ?

Người ta có thể tiếc là trong hơn 700 người được tặng giải Nobel hơn 100 năm qua, đã không có mặt Freud, Proust hay Gandhi. Ảnh hưởng của Freud là rất lớn không chỉ về mặt y học và xã hội mà cả về văn hóa, đặc biệt là văn chương. Gandhi thì 5 lần vào chung kết Nobel Hòa bình nhưng vẫn không đoạt giải. Thuyết tương đối của Albert Einstein được công bố năm 1905. Nhưng mãi năm 1921, Einstein mới được Nobel Vật lý về một công trình ít quan trọng hơn. Ấy là chưa nói tới Lev Tolstoi khổng lồ…

(Sưu tầm : báo điện tử http://vnn.vnhttp://khoahoc.com

Advertisements

Những kỷ lục về giải thưởng Nobel

Năm 1895, nhà bác học người Thuỵ Điển Alfred Bernhard Nobel lập di chúc nêu rõ: toàn bộ gia sản ông để lại trị giá gần 70 triệu cuaron Thụy Điển sẽ được lập thành quỹ cho một loại giải thưởng hàng năm mang tên ông, để trao cho “những ai, trong năm trước, được đánh giá có đóng góp thiết thực nhất cho nhân loại”.

Sau khi A. B. Nobel qua đời ngày 10-12-1896, theo nguyện ước của ông, Tổ chức Giải thưởng Nobel được thành lập năm 1900.

Giải thưởng Nobel đầu tiên được trao vào năm 1901.

Các giải thưởng Nobel được quyết định trao vào giữa tháng 10 hàng năm và Lễ trao huy chương và tấm séc diễn ra vào ngày 10-12 cùng năm, ngày kỷ niệm Nhà bác học A. B. Nobel qua đời.

Theo quy định, Giải thưởng Nobel được trao cho những nhà vật lý, nhà hoá học, thầy thuốc, nhà văn và những nhà hoạt động vì hoà bình được Hội đồng giải thưởng Nobel coi là lỗi lạc nhất thế giới trong năm.

Đến nay, Tổ chức giải thưởng Nobel đã có lịch sử 106 năm (1900-2006). Trong 106 năm qua, giải thưởng Nobel đã có nhiều kỷ lục được xác lập.

Những nhà khoa học trẻ tuổi đoạt giải thưởng Nobel (cho từng môn):

– Giải thưởng Nobel Vật lý:

+ William Lawrence Bragg, 25 tuổi (đoạt giải thưởng Nobel Vật lý năm 1915);
+ Marie Curie Sklodowska, 36 tuổi (đoạt Giải thưởng Nobel Vật lý năm 1903).

Giải thưởng Nobel Sinh học và Y học:

+ Frederick Grant Banting, 32 tuổi (đoạt giải thưởng Nobel Sinh học và Y học năm 1923).

– Giải thưởng Nobel Hoá học:

(Ảnh: oregonstate.edu)+ Koichi Tanaka, 33 tuổi (đoạt giải thưởng Nobel Hóa học năm 2000);
+ Frédéric Joliot, 35 tuổi và Irène Curie Joliot, 38 tuổi (đoạt giải thưởng Nobel Hóa học năm 1935).

– Giải thưởng Nobel Hòa bình:

+ Rigoberta Menchu Tum, 33 tuổi (đoạt giải thưởng Nobel Hòa bình năm 1992).

– Giải thưởng Nobel Văn học:

+ Rudyard Kipling 42, tuổi (đoạt giải thưởng Nobel Văn học năm 1907).

Những nhà khoa học cao tuổi đoạt giải thưởng Nobel (cho từng môn):

– Giải thưởng Nobel Sinh học và Y học:

+ Francis Peyton Rous, 87 tuổi (đoạt giải thưởng Nobel Sinh học và Y học năm 1966);
+ Karl von Frisch, 87 tuổi (đoạt giải thưởng Nobel Sinh học và Y học năm 1973).

– Giải thưởng Nobel Vật lý:

+ Vitaly L. Ginzburg, 87 tuổi (đoạt giải thưởng Nobel Vật lý năm 2003);
+ Pyotr L. Kapitsa, 84 tuổi (đoạt giải thưởng Nobel Vật lý năm 1978).

– Giải thưởng Nobel Hòa bình:

+ Ferdinand Buisson, 86 tuổi (đoạt giải thưởng Nobel Hòa bình năm 1927).

– Giải thưởng Nobel Văn học:

+ Theodor Mommsen 85 tuổi (đoạt giải thưởng Nobel Văn học năm 1902).

– Giải thưởng Nobel Hóa học:

+ Charles J. Perdersen, 83 tuổi (đoạt giải thưởng Nobel Hóa học năm 1987).

Tuổi trung bình của các nhà khoa học đoạt giải thưởng Nobel (cho từng môn):

Giải thưởng Nobel Hóa học: Trung bình 54,24 tuổi

Giải thưởng Nobel Văn học: Trung bình 63,68 tuổi

Giải thưởng Nobel Hòa bình: Trung bình 62,31 tuổi

Giải thưởng Nobel Sinh học và Y học: Trung bình 55,88 tuổi

Giải thưởng Nobel Vật lý: Trung bình 51,22 tuổi

* Trung bình tổng cộng cho tất cả các môn: 57,46 tuổi

Những đôi vợ chồng đoạt nhiều giải thưởng Nobel

Nhà nữ khoa học Marie Curie đoạt giải thưởng Nobel Vật lý (năm 1903) và giải thưởng Nobel Hóa học (năm 1911) Ảnh:
Nhà nữ khoa học Marie Curie đoạt giải thưởng Nobel Vật lý (năm 1903) và giải thưởng Nobel Hóa học (năm 1911) – (Ảnh: achievement.org)

Gia đình Curie: Nhà khoa học Pierre Curie và vợ là nhà khoa học Marie Curie đoạt giải thưởng Nobel Vật lý (năm 1903).

Gia đình Joliot: Nhà khoa học Frédéric Joliot và vợ là nhà khoa học Irène (con gái của Pierre và Marie Curie) đoạt giải thưởng Nobel Hóa học (năm 1935).

Gia đình Ferdinand: Nhà khoa học Karl Ferdinand và vợ là nhà khoa học Gerty Theresa đoạt giải thưởng Nobel Sinh học và Y học (năm 1947).

Gia đình Myrdal: Nhà khoa học Gunnar Myrdal đoạt giải thưởng Nobel Kinh tế (năm 1974) và vợ là nhà khoa học Alva Myrdal đoạt giải thưởng Nobel Hòa bình (năm 1982).

Những nhà khoa học và con rể đoạt giải thưởng Nobel:

– Nhà nữ khoa học Marie Curie đoạt giải thưởng Nobel Vật lý (năm 1903), giải thưởng Nobel Hóa học (năm 1911) và con rể là nhà khoa học Frédéric Joliot đoạt giải thưởng Nobel Hóa học (năm 1935).

– Nhà khoa học Heinrich Wieland đoạt giải thưởng Nobel Hóa học (năm 1927) và con rể là nhà khoa học Feodor Lynen đoạt giải thưởng Nobel Sinh học và Y học (năm 1964).

– Nhà khoa học John Howars Northrop đoạt giải thưởng Nobel Hóa học (năm 1946) và con rể là nhà khoa học Frederic Chapman Robbins đoạt giải thưởng Nobel Sinh học và Y học (năm 1954).

– Nhà khoa học Peyton Rous đoạt giải thưởng Nobel Sinh học và Y học (năm 1966) và con rể là nhà khoa học Alan Hodgkin đoạt giải thưởng Nobel Sinh học và Y học (năm 1963).

Anh em đoạt giải thưởng Nobel:

Nhà khoa học Jan Tinbergen đoạt giải thưởng Nobel Kinh tế (năm 1969) và em trai là nhà khoa học Nikolaas Tinberge đoạt giải thưởng Nobel Sinh học và Y học (năm 1973).

Cha và con, mẹ và con cùng đoạt giải thưởng Nobel:

Gia đình Thomson: Nhà khoa học Joseph Thomson đoạt giải thưởng Nobel Vật lý (năm 1906) và con là nhà khoa học George Paget Thomson đoạt giải thưởng Nobel Vật lý (năm 1937).

Gia đình Curie: Nhà nữ khoa học Marie Curie đoạt giải thưởng Nobel Hóa học (năm 1911) và con là nhà khoa học Irène Curie đoạt giải thưởng Nobel Hóa học (năm 1935).

Gia đình Bragg: Nhà khoa học William Henry Bragg và con là nhà khoa học William Lawrence Bragg cùng đoạt giải thưởng Nobel Vật lý (năm 1915).

Gia đình Bohr: Nhà khoa học Niels Bohr đoạt giải thưởng Nobel Vật lý (năm 1922) và con là nhà khoa học Aage Bohr đoạt giải thưởng Nobel Vật lý (năm 1975).

Gia đình Siegbahn: Nhà khoa học Mann Siegbahn đoạt giải thưởng Nobel Vật lý (năm 1924) và con là nhà khoa học Kai Siegbahn đoạt giải thưởng Nobel Vật lý (năm 1981).

Gia đình Euler: Nhà khoa học Hans von Euler – Chelpin đoạt giải thưởng Nobel Hóa học (năm 1929) và con là nhà khoa học Ulf von Euler đoạt giải thưởng Nobel Sinh học và Y học (năm 1970).

Gia đình Kornberg: Nhà khoa học Arthur Kornberg đoạt giải thưởng Nobel Y học (năm 1959) và con trai là nhà khoa học Roger Kornberg đoạt giải thưởng Nobel Hóa học (năm 2006).

Những nhà khoa học 2 lần đoạt giải thưởng Nobel:

– Marie Curie:

+ Đoạt giải thưởng Nobel Vật lý (năm 1903) cùng với chồng Pierre Curie và H. Becquerel.
+ Đoạt giải thưởng Nobel Hóa học (năm 1911).

– Linus Pauling:

+ Đoạt giải thưởng Nobel Hóa học (năm 1954)
+ Đoạt giải thưởng Nobel Hòa bình (năm 1962).

– John Bardeen:

+ Đoạt giải thưởng Nobel Vật lý (năm 1956) cùng với W. H. Brattain và W. Shokley.
+ Đoạt giải thưởng Nobel Vật lý (năm 1972) cùng với L. Cooper và J. R. Schrieffer.

– Frederic Sanger:

+ Đoạt giải thưởng Nobel Hóa học (năm 1958)
+ Đoạt giải thưởng Nobel Hóa học (năm 1980) cùng với W. Gilbert.

Các tổ chức quốc tế đoạt giải thưởng Nobel:

– Ủy ban Chữ Thập đỏ Quốc tế:

+ Đoạt giải thưởng Nobel Hòa bình (năm 1917);
+ Đoạt giải thưởng Nobel Hòa bình (năm 1944);
+ Đoạt giải thưởng Nobel Hòa bình (năm 1963).

– Cơ quan Cao ủy Liên Hiệp Quốc về người tị nạn:

+ Đoạt giải thưởng Nobel Hòa bình (năm 1954);
+ Đoạt giải thưởng Nobel Hòa bình (năm 1981).

Những người đoạt giải thưởng Nobel nhưng không nhận:

+ Nhà văn Jean Paul Sartre, đoạt giải thưởng Nobel Văn học (năm 1964).

+ Ông Lê Đức Thọ, đoạt giải thưởng Nobel Hòa bình (năm 1973).

+ Nhà văn Boris Pasternak, đoạt giải thưởng Nobel Văn học (năm 1958).

Theo TTXVN, Tuổi trẻ

Chính Alfred Nobel cũng là nhà phát minh có tài

Chính con người đã hiến tặng 94% tài sản của mình để sáng lập ra “Giải thưởng Nobel” nhằm tôn vinh những sáng tạo cống hiến cho loài người – Alfred Nobel, gần 150 năm trước cũng là một nhà sáng chế phát minh có tài.

Alfred Nobel sinh ngày 21, tháng Mười, năm 1833 tại Stockholm, Thụy Điển. Ông là người con thứ ba trong gia đình có truyền thống về kỹ thuật và hóa học.


Alfred Nobel

Cha ông, Immanuel Nobel, người đã phát minh ra công nghệ ép gỗ hiện đại và có những cải tiến thủy lôi, giúp cho Nga có những lợi thế trên biển trong cuộc Chiến tranh Crimean. Anh trai ông, Lugvic Nobel, trùm dầu mỏ ở Baku, chế tạo thành công thùng chứa và đường ống dẫn dầu.

Gia đình ông còn sở hữu một nhà máy lớn sản xuất khí tài cho quân đội Nga tại Helenborg, Stockholm. Tuy vậy, sau thất bại của Đế quốc Nga trong cuộc chiến tranh Crimean, Sa hoàng Aleksandr II đã quyết định cắt giảm ngân sách dành cho quân đội và điều này đã làm cho nhà máy của cha Nobel điêu đứng.
Một thời gian sau đó, Immanuel Nobel bắt đầu nghiên cứu chế tạo nitroglycerin, một loại chất hóa học mới có sức công phá lớn. Ông thường nghiên cứu cùng với các con trai mình tại nhà máy. Mặc dù vậy, nitroglycerin là hợp chất hóa học ở dạng lỏng, nhạy nổ và rất nguy hiểm. Chính điều này đã dẫn đến cái chết của em trai Nobel, Emil Oskar Nobel, trong một vụ nổ tại nhà máy khi Emil đang cố gắng điều chế nitroglycerin.

Điều này đã thôi thúc Alfred Nobel tìm ra cách chế tạo hợp chất hóa học này một cách an toàn hơn. Và sau những cố gắng không biết mệt mỏi cùng những hiểm nguy trong quá trình thí nghiệm, cuối cùng Alfred Nobel đã tìm ra phương pháp chế tạo an toàn nitroglycerin.

Dù vậy, nitroglycerin nguyên chất vẫn rất nguy hiểm. Một lần nữa, bài toán này lại thôi thúc Nobel tìm ra cách chế tạo một loại thuốc nổ mới từ nitroglycerin ở dạng an toàn hơn nữa. Cuối cùng, vào năm 1866, ông đã chế tạo thành công Dynamite, một loại thuốc nổ nitroglycerin an toàn. Sau khi công bố phát minh vĩ đại này, Nobel nhận được bằng sáng chế tại Anh vào 7/5/1867 và tại Thụy Điển vào 19/10/1867. Bằng công nhận sáng chế nitroglycerin của Nobel, năm 1864.


Phòng thí nghiệm hóa học. Ảnh minh họa.

Dynamite được bán ra thị trường đầu tiên là hỗn hợp dẻo của nitroglycerin và nitrocellulose. Loại thuốc nổ này được bán ở dạng gậy dài 20cm, đường kính 2.5cm hoặc một số kích cỡ khác, được kích nổ bằng ngòi dẫn. Đến năm 1868, Alfred Nobel đã thay nitrocellulose bằng đất tảo cát (tên khác: bọt biển) làm chất bán dẫn. Cải tiến này đã làm cho Dynamite trở nên ổn định hơn và được sử dụng một cách rộng rãi trong xây dựng và khai thác hầm mỏ. Sau này, ông còn phát minh ra một số loại thuốc súng nitroglycerin, nổi bật trong số đó là ballistite, một loại thuốc súng không khói.

Những phát minh này cộng với việc khai thác các giếng dầu ở Baku của anh em ông đã đem lại cho ông những khoản lợi nhuận kếch xù.

Năm 1888, một tờ báo của Pháp đã nhầm lẫn Nobel với cái chết của anh trai ông, Lugvic Nobel. Bản cáo phó “Nhà buôn cái chết đã chết” viết rằng: “Tiến sĩ Alfred Nobel, người đã trở nên giàu có sau khi phát minh ra cách thức giết chết con người nhanh hơn bao giờ hết đã qua đời ngày hôm qua”. Đây được cho là cho là lý do chính cho sự phiền muộn của Nobel trong những năm cuối đời và khiến ông quyết định hiến tặng 94% tài sản của mình (khoảng 4,22 triệu USD khi đó) để sáng lập ra “Giải thưởng Nobel” nhằm tôn vinh những sáng tạo cống hiến cho loài người.

Alfred Nobel qua đời ngày 10, tháng 12, 1896 tại Sanremo, Ý, do một cơn đột quỵ. Nhiều năm sau cái chết của ông, người ta vẫn còn tranh cãi về công dụng của thuốc nổ dynamite cũng như sức tàn phá của nó trong chiến tranh. Nhưng một điều không thể phủ nhận rằng thuốc nổ dynamite của Nobel đã giải phóng sức lao động cho con người, tạo ra các bước tiến vượt bậc trong xây dựng đường xá cũng như việc khai thác hầm mỏ.

Theo Vietnamnet