Category Archives: Công nghệ

Trái cây cận nhiệt đới

Advertisements

Chuyển giao công nghệ làm giấy từ… rơm rạ, bã mía

Ngày 17/7/2008 tại TP.HCM, Siêu thị công nghệ công nghệ (Vinatech) cùng tập đoàn Taise và Ohhara (Nhật Bản) kí kết hợp tác chuyển giao công nghệ sản xuất bột giấy phi gỗ của Nhật Bản trị giá 50 tỷ đồng.

Với công suất từ 15-30 tấn/ngày, dây chuyền nói trên cho phép sản xuất bột giấy từ nguyên liệu phi gỗ như các loại nhánh keo lai hom, nhánh cây tràm, nhánh bạch đàn và thậm chí là từ rơm rạ hay bã mía.

Nếu đem so sánh với việc sản xuất bột giấy từ gỗ thì phương pháp phi gỗ được đánh giá khá cao bởi nó cho phép tận dụng đựoc thế mạnh nguyên liệu sẵn có của Việt Nam. Nguyên liệu này một phần là do có sẵn, một phần có thể nhờ trồng canh tác ngắn ngày.

Đại diện Việt Nam và Nhật Bản tại lễ kí kết hợp tác. (Ảnh: Mai Linh)

Do không phải phá rừng lấy nguyên liệu nên công nghệ sản xuất bột giấy từ nguyên liệu phi gỗ là giải pháp tận dụng nguyên liệu, giúp hạn chế gây ô nhiễm môi trường. Nói vậy là bởi: Khi đốt sản phẩm từ cây trồng, hoặc sản phẩm mọc lên từ việc hấp thụ khí các bonnic và thải ra oxi, chúng sẽ sinh ra một lượng carbonnic tương đương với khí hấp thụ, khiến cho tổng lượng khí cacbonnic trong môi trường không thay đổi.

Bên cạnh đó, việc sử dụng dây chuyền sản xuất bột giấy cao cấp từ nguyên liệu phi gỗ ở quy mô công suất nhỏ vẫn cho phép lắp đặt rải rác theo địa phương, tuỳ theo các vùng nguyên liệu. Đầu ra sản phẩm là bột giấy chất lượng cao, cung cấp cho thị trường trong nước và Nhật Bản.

Phát biểu tại lễ kí kết, ông Vũ Ngọc Bảo, Tổng thư kí Hiệp hội giấy VN (VPPA) cho biết, ông rất hy vọng công nghệ sản xuất bột giấy của Nhật Bản sẽ phù hợp với điều kiện nguyên liệu của Việt Nam. Bởi hiện nay, việc đầu tư phát triển nguyên liệu bột giấy trong nước chưa đáp ứng nhu cầu sử dụng. Hiện, Việt Nam vẫn phải nhập khẩu khoảng 60% bột sản xuất giấy theo phương pháp hoá học. Sự phát triển của ngành giấy hiện đang bị mất cân đối giữa bột và giấy bởi từ lâu chúng ta không triển khai được việc sản cuất dự án bột.

Dây chuyền sản xuất bột gỗ của Nhật từ nguyên liệu phi gỗ gồm:
1. Máy nghiền tinh hai đĩa DDR, với hai bộ làm tinh mang đến năng suất cao gấp 2 lần trên cùng 1 loại chấn đế máy có thể giảm tối đa mức độ ma sát và tiếp xúc giữa các bộ phận kim loại xảy ra trong những hoạt động tải năng.2. Máy lọc bột giấy giúp loại bỏ tạp chất một cách nhanh nhất.
3. Máy lọc thứ cấp (xử lý phần bị loại) cho kết quả sàng lọc tốt hơn hiệu quả gấp 4-5 lần so với máy sàng rung truyền thống. Thiết bị này tương đối gọn nhẹ và được chứng nhận là tối thiểu ô nhiễm khu vực hoạt động.
4. Máy làm sạch nồng độ cao có khả năng loại bỏ cực tốt kim loại, cát và những tạp chất khác trong bột giấy. Ngoài ra, nó còn giúp cho việc liên tục loại bỏ những vật lạ ngay cả với một lượng nước cân bằng để làm sạch tối thiểu. Đặc biệt, với thiết kế phần xả cuối giúp loại bỏ ngay cả những hạt cát nhỏ nhất ở nồng độ là 1.0-1.5%
5. Máy nghiền chính được thiết kế giúp cho việc bảo tồn năng lượng, đảm bảo hiệu quả nghiền và tiết kiệm chi phí trong sản xuất với khả năng nghiền nguyên liệu cấp thấp mà không làm hỏng sợi bột.
6. Máy lọc dạng trống giúp kéo dài thời gian lưu bột bên trong và nồng độ bột ra ổn định khiến quá tình xử lý bột không bị dính lại do đó nồng độ bột đầu ra không ảnh hưởng đến bột.

Theo Mai Linh – VietNamNet

10 công nghệ thân thiện môi trường

66 10 công nghệ thân thiện môi trường

Nguồn lấy từ http://gogreen.com.vn

Con người có thể có cuộc sống bền vững trên hành tinh nếu như biết hạn chế sự lãng phí năng lượng, nguồn nước; lạm dụng tài nguyên; hạn chế gây ra tình trạng thay đổi khí hậu toàn cầu và nạn chặt phá rừng…

Dự tính đến năm 2025, dân số thế giới sẽ có thêm 2,9 tỷ người góp phần làm cạn kiệt nguồn nước và đến năm 2030 nhu cầu năng lượng của Thế giới sẽ tăng lên 60%… Phát minh nào giúp hành tinh tiếp tục phát triển bền vững?

Dưới đây là 10 sản phẩm công nghệ thân thiện với môi trường do trang web “LiveScience.com” giới thiệu. Chúng có thể giúp cho tương lai tươi sáng hơn.

1. Giấy báo tái sử dụng

Đó là giấy điện tử, một màn hình linh hoạt trông giống như giấy, nhưng có thể tái sử dụng nhiều lần. Màn hình này bao gồm nhiều hạt capsule siêu nhỏ chứa các phần tử mang điện được bao bởi một phôi kim loại. Mỗi capsule siêu nhỏ có các hạt trắng và đen mang điện dương hoặc âm. Tùy thuộc điện âm hay dương, mà hạt đen hoặc trắng hiển thị trên bề mặt màn hình những mẫu khác nhau.

Chỉ tính riêng ở Mỹ, hơn 55 triệu tờ báo như vậy có thể được bán trong mỗi ngày.

2. Chôn lấp các chất gây ô nhiễm

Khí CO2 là yếu tố chính gây nên hiệu ứng nhà kính và làm trái đất nóng lên. Theo một số chuyên gia, chúng ta không thể hạn chế lượng khí thải CO2 phát tán vào khí quyển và mà phải tìm cách loại bỏ nó. Người ta đã đề xuất phương án chôn các khí trên xuống đất trước khi chúng kịp bay vào khí quyển. Sau khi tách riêng CO2 ra khỏi những khí thải khác, có thể chôn nó trong những giếng dầu cạn, mỏ muối và trong các vách đá trong lòng đất.

3. Làm sạch không khí bằng cây xanh và vi khuẩn

Phương pháp “Bioremediation” có thể dùng vi khuẩn và cây cối để dọn sạch ô nhiễm. Ví dụ loại bỏ nitrat trong nước bằng vi khuẩn và dùng cây để hút thạch tín trong đất thông qua quá trình có tên là “phytoremediation”. Cơ quan bảo vệ môi trường Mỹ đã thí điểm dùng quy trình này.

Thường thì các loài cây bản địa có thể dùng để làm sạch ô nhiễm và hơn thế, hầu như chúng không cần phun thuốc trừ sâu hay tưới nước. Ởã một số loài khác, các nhà khoa học cố gắng thay đổi di truyền học để chúng có thể dùng rễ hút các chất gây ô nhiễm và dùng những chất này để nuôi dưỡng sự phát triển của cây.

4. Trồng cây trên mái nhà

Vườn trên mái nhà giúp hấp thụ hơi nóng, hút nước mưa, giảm việc sử dụng điều hòa vào mùa hè và giảm ảnh hưởng của CO2 bằng cách hút khí CO2 và nhả ra ôxy. Công nghệ này có thể làm giảm ảnh hưởng “đảo nhiệt” thường xảy ra ở trung tâm dân cư.

5. Khai thác năng lượng từ biển

Đại dương chiếm hơn 70% bề mặt trái đất. Trong đó, sóng biển mang trong mình nó năng lượng dồi dào có thể làm các tua-bin hoạt động và biến năng lượng cơ học thành điện năng. Tuy nhiên nó có trở ngại là đôi khi các con sóng quá nhỏ để sản xuất đủ năng lượng cần thiết. Yêu cầu đặt ra là phải có cách tích lũy khi năng lượng cơ học được sinh ra đủ. Ở New York, Mỹ, người ta đang thử nghiệm phương pháp này tại con sông phía Đông thành phố với 6 tua-bin chạy bằng năng lượng thủy triều. Tại trường Đại học bang Oregon, các nhà khoa học đã thiết kế một hệ thống phao có khả năng thu năng lượng sóng đại dương đủ cung cấp cho hơn 1.500 gia đình.

6. Chuyển đổi năng lượng nhiệt đại dương

Thiết bị có thể thu nhiều năng lượng mặt trời nhất chính là đại dương. Theo Bộ Năng lượng Mỹ, mỗi ngày các đại dương thu nhiệt từ mặt trời đủ bằng năng lượng chứa trong 250 tỷ thùng dầu. Công nghệ OTEC đã biến đổi năng lượng nhiệt có trong đại dương thành điện bằng cách lợi dụng sự chênh lệch nhiệt độ giữa bề mặt nước. Sự khác biệt về nhiệt độ có thể vận hành tua-bin, làm chạy các máy phát điện.

7. Khai thác năng lượng mặt trời

Năng lượng mặt trời chiếu tới trái đất dưới dạng các photon và có thể chuyển thành điện hoặc nhiệt. Những thiết bị thu năng lượng mặt trời có nhiều dạng khác nhau và đã được các công ty năng lượng và hộ gia đình dùng thành công. Hai loại máy được biết đến rộng rãi nhất là thiết bị thu nhiệt và pin mặt trời. Các nhà khoa học đang cố biến đổi loại năng lượng này có hiệu quả hơn bằng cách một hệ thống gương parabol tích tụ chúng lại. Bang California, Mỹ, đã ủng hộ một chương trình toàn diện khuyến khích phát triển sử dụng năng lượng mặt trời.

8. Năng lượng “Hydro”

Sử dụng pin năng lượng hydro được coi như một giải pháp thay thế cho xăng, dầu và không gây ô nhiễm môi trường.

Điện sinh ra trong quá trình kết hợp hydro và ôxy tạo ra nước. Nhưng pin thu được phải có hydro. Như vậy, các phân tử như nước và rượu phải được xử lý để chiết xuất ra hydro cung cấp cho pin nhiên liệu. Một số quá trình yêu cầu cần sử dụng những nguồn năng lượng khác, do đó phá hỏng ưu thế của loại “nhiên liệu sạch” này. Gần đây các nhà khoa học đang nghiên cứu các phương pháp nạp năng lượng cho máy tính xách tay và các thiết bị nhỏ bằng pin nhiên liệu. Một số công ty cũng hứa hẹn sẽ sớm ra mắt loại xe chỉ thải nước sạch. Tương lai về một “nền kinh tế hydro” là hoàn toàn khả thi.

9. Loại muối trong nước biển

Khử muối và các chất khoáng ra khỏi nước biển, là một trong những cách cung cấp nước “ngọt” sử dụng cho nhiều nơi trên thế giới mà hiện nay nguồn nước còn hạn chế. Các nhà khoa học đang hướng tới những quy trình tiến bộ hơn, dùng những nhiên liệu rẻ tiền có thể tạo nhiệt ẩm bay hơi nước, trước khi lọc nó qua màng lọc cực nhỏ.

10. Biến rác thải thành dầu

Bất kỳ rác thải hữu cơ nào, dưới nhiệt độ và áp suất vừa đủ đều có thể biến thành dầu thông qua quá trình phân hóa bằng nhiệt. Quá trình này cũng tương tự như cách tạo ra dầu trong tự nhiên. Những người đề xướng chương trình này khẳng định một tấn chất thải hữu cơ có thể sản xuất được khoảng 600 pound dầu tự nhiên.

Theo nea

Sức gió thành tiền

Nhiệt hạch, năng lượng của tương lai đang được thử nghiệm. Trước mắt, năng lượng nguyên tử, năng lượng tái tạo như từ ánh sáng mặt trời, địa nhiệt, sóng biển, sức gió đang được nhiều nước lựa chọn trước cuộc “khủng hoảng năng lượng”.

Thị trường năng lượng từ sức gió toàn cầu sẽ phát triển nhanh trong mười năm tới, có thể đạt công suất 107 nghìn MW/năm vào năm 2017 (hiện nay 20 nghìn MW). Trị giá điện từ sức gió vào năm 2017 sẽ vào khoảng 100 tỷ Euro/năm, tăng năm lần so với mức hiện nay. Các thị trường đạt tăng trưởng mạnh nhất về nguồn năng lượng gió là Mỹ, Trung Quốc, Tây Ban Nha và Ấn Ðộ.

Tại Ấn Ðộ, Tulsi Tanti lại đi theo con đường độc đáo của mình: “Biến những cơn gió thành năng lượng”. Việc này đã đưa tên của Tulsi Tanti vào danh sách những tỷ phú thế giới và trở thành anh hùng trong cuộc chiến bảo vệ môi trường. Sinh năm 1958, trong một gia đình nông dân, có ba anh em trai, Tulsi Tanti đã phải trải qua những tháng ngày lao động cực khổ và một cuộc sống thiếu thốn.

Con đường độc đáo mà Tulsi Tanti chọn: Ðiện gió đã giúp cậu bé nghèo thoát khỏi cuộc sống cơ cực. Ý tưởng kinh doanh những cơn gió và những thành công của Tulsi Tanti từng được không ít người xem như một câu trả lời cho câu hỏi, làm thế nào để một người xuất thân từ hoàn cảnh nghèo khó vươn lên.

Từ những ngày còn đi học, Tulsi Tanti đã nuôi ý nghĩ về một tương lai gắn liền với kinh doanh, dù khi đó cậu chỉ có hai bàn tay trắng.

Tốt nghiệp đại học (hiện có hai bằng cử nhân thương mại và kỹ thuật cơ khí), Tulsi Tanti xin vào làm việc tại Công ty dệt may Suzlon. Sau đó, Tulsi Tanti được bổ nhiệm vào vị trí quản đốc và người đứng đầu Suzlon.

Tulsi Tanti còn phải đối mặt với khó khăn về nguồn điện phục vụ sản xuất khi giá điện tăng. Tulsi Tanti nghĩ ngay tới nguồn năng lượng thay thế là điện gió, vừa rẻ vừa  sạch và ổn định. Phải bỏ ra một khoản tiền lớn, Tulsi Tanti vẫn đầu tư xây dựng một nhà máy nhỏ, tự sản xuất điện với hai tua-bin chạy bằng sức gió. Nguồn năng lượng cần thiết cho nhà máy dệt đã được cung cấp đủ.

Năm 1995, Công ty Suzlon Energy Ltd chính thức ra đời từ ý tưởng chuyển sức gió thành nguồn điện thay thế phục vụ sản xuất của Tulsi Tanti (lĩnh vực kinh doanh chưa có ai làm ở Ấn Ðộ). Tulsi Tanti tới châu Âu tìm kiếm đối tác, mua được mười tua-bin gió cùng các trang thiết bị để xây dựng nhà máy điện gió đầu tiên của Ấn Ðộ và khu vực châu Á, có công suất 201 MW. Suzlon Energy Ltd nhanh chóng thiết lập được mạng lưới phủ rộng trên khu vực Pune và một số tỉnh, thành lân cận.

Năm 1999, Suzlon Energy Ltd đã cho ra đời sản phẩm tua-bin máy điện gió đầu tiên và những dịch vụ khách hàng từ trùng tu, bảo dưỡng, sửa chữa cho tới thay thế trang thiết bị. Ðây là những nền tảng chiến lược vươn ra thị trường toàn cầu của Suzlon. Khi có tên trên sàn giao dịch chứng khoán Mumbai, Suzlon Energy Ltd là một trong số doanh nghiệp được xếp vào danh sách có nguồn vốn hơn bốn tỷ USD.  Nắm giữ 70% nguồn vốn của doanh nghiệp, ngay từ giữa thập niên 90 của thế kỷ trước, Tulsi Tanti đã trở thành một trong những số ít triệu phú của Ấn Ðộ.

Năm 2001, Tulsi Tanti từ bỏ lĩnh vực dệt chuyển sang chuyên kinh doanh điện gió. Các sản phẩm của Suzlon Energy Ltd lần lượt chiếm lĩnh thị trường nội địa và sang thị trường nhiều quốc gia khác. Từ Australia, Trung Quốc, New Zealand, Hà Lan cho tới Ðức và Mỹ.

Tới năm 2006, Suzlon Energy Ltd đã vươn lên vị trí sản xuất turbine gió lớn nhất châu Á, thứ tư thế giới. Với nguồn nhân lực 13 nghìn người hoạt động ở 12 nước trên khắp năm châu. Ðược mệnh danh là một “Anh hùng” hay “Chiến binh” của Ấn Ðộ, bên cạnh những chiến lược kinh doanh tầm cỡ, Tulsi Tanti còn là một trong những người đi đầu trong bảo vệ môi trường sống. Nỗ lực phát triển những “cánh đồng gió” và các loại thiết bị sản xuất điện gió của ông không chỉ giúp phát triển thêm nguồn điện năng thay thế, mà còn giúp xã hội hạn chế được các nguồn ô nhiễm như khí thải, âm thanh và khói bụi.

Là người khởi xướng, Tulsi Tanti đã giành được thành công lớn nhất trong ngành công nghiệp năng lượng điện gió tại Ấn Ðộ. Tulsi Tanti không chỉ được biết tới trong bản danh sách những tỷ phú của thế giới với khối tài sản 10 tỷ USD mà ông còn được người dân nhiều nước tôn vinh. Tạp chí Time (Mỹ) đã bầu chọn Tulsi Tanti là một trong những người hùng của môi trường thế giới; tạp chí Forbes gọi Tulsi Tanti là một trong những “tỷ phú xanh nhất” thế giới.

Nguồn: Nhân dân

Phương pháp mới khử hidro từ nước bằng môlipden sunfua (MoS2)

MoS2 sở hữu tính chất tương tự Pt trong vai trò là chất xúc tác qua thí nghiệm khử hidro từ nước.

(Kích thước các hạt MoS2 vào khoảng vài nanomet, xúc tác trong quá trình khử hidro từ nước)

Pt và các kim loại phân bố lân cận trong bảng hệ thống tuần hoàn có thể làm xúc tác cho rất nhiều các phản ứng hóa học khác nhau. Chúng được ứng dụng khá rộng rãi, ví dụ, trong hệ thống làm sạch khí thải. Nhưng giá thành khá cao của các kim loại này khiến các nhà nghiên cứu phải không ngừng tìm ra những chất thay thế với giá thành rẻ hơn.
Bằng việc kiểm tra kích thước và hình thái học 1 lớp phẳng của các hạt MoS2, các nhà nghiên cứu ĐHKT Đanhi đã trưng bày khả năng của MoS2 tách H2 từ nước (2H(+) + 2e(-) = H2). Các nhà nghiên cứu cũng đã khám phá ra rằng, phản ứng khử H2 xảy ra trên bề mặt của MoS2. Khám phá này có giá trị lý thuyết và ứng dụng thực tiễn rất cao. Trước đây, khả năng xúc tác của MoS2 đã được ghi nhận trên nhiều tài liệu, nhưng chưa có thí nghiệm trực tiếp nào chứng minh được quan điểm đó.
Để điều chế MoS2 với kích thước cần thiết giáo sư Ib Chorkendorff đã cho Mo phản ứng với H2S trên bề mặt Au, kết tủa trong thể hơi.
Các nhà nghiên cứu còn cải tiến kỹ thuật điều chế, có khả năng điều chỉnh kích thước và số nguyên tử trên một phân tử nano. Các nhà nghiên cứu cũng chứng minh được rằng, tốc độ giải phóng hidro tỉ lệ tuyến tính với số nguyên tử trên một hạt nano.

Theo http://community.h2vn.com/index.php?topic=2007.msg21822#msg21822

Tạo ra những thước phim về phân tử

Những phân tử sinh học và hữu cơ trong dung dịch có độ phức hợp cao hơn nhiều so với các cấu trúc tinh thể tiêu chuẩn của muối hoặc kim loại, vì chúng thường xuyên chuyển động và thay đổi theo thời gian . Những chuyển động này vẫn còn chưa nhìn thấy được một cách trực tiếp, nhưng các nhà khoa học khi sử dụng những tia X cường độ mạnh ở Nguồn Photon Tiên tiến đã đo được những hình ảnh mà bị “nhòa đi” bởi những chuyển động đó và đã sử dụng chúng để tạo ra những thước phim chính xác hơn về các chuyển động phân tử.

Những mô phỏng trên máy tính là cách duy nhất hiện nay để hiển thị hóa những chuyển động phân tử ở trong dung dịch, nhưng các nhà nghiên cứu vẫn còn chưa có phương tiện để kiểm tra độ chính xác của những mô phỏng đó đối với những phân tử phức hợp. Lần đầu tiên các nhà khoa học đã có được khả năng nhìn thấy trực tiếp những chuyển động của phân tử và so sánh chúng với những chuyển động mà họ đã vẽ ra được bằng lý thuyết.

“Hiện tượng nhòa mà ta thấy ở trong những mô thức tia X của dung dịch là cực kỳ nhạy đối với loại hình chuển động của phân tử”, nhà hóa học cao cấp, David Tiede, nói. “Lần đầu tiên chúng tôi đã có được khả năng kiểm nghiệm được độ chính xác của mô phỏng và thay đổi nó để phù hợp hơn với dữ liệu. Không có phương tiện này, chúng tôi không thể biết được những mô hình đó chính xác tới đâu”.

Tiede hy vọng độ chính xác được cải thiện của các mô hình phân tử sẽ đem lại sự hiểu biết tốt hơn về cấu trúc và hành vi của các phân. Các cộng tác viên ở Viện Y tế Quốc gia đã sử dụng cách tiếp cận này để giúp xác địng cấu trúc của những phân tử sinh học quan trọng.

Tiede và các cộng sự cũng dự kiến xem xét các thức cấu trúc phân tử phản ứng với một kích thích bên ngòai. Bằng cách sử dụng tia laser để kích thích các nguyên tử, ông sẽ tạo ra một thước phim cho thấy cách thức phân tử đó phản ứng với tia laser ban đầu, và cũng cho thấy cách thức nó trở lại trạng thái ổn định.

“Chúng tô hy vọng xác định được giữa những diễn viên tốt và dở ở trong những quá trình hóa học quan trọng, chẳng hạn như quang hợp, năng lượng mặt trời và các xúc tác” Tiede nói. “Một khi ta thấy được, ta sẽ tìm ra cách để những quá trình đó diễn ra tốt hơn”.

NACESTI (Theo DOE/Argonne National Laboratory, 4/2008)

http://www.vista.gov.vn/pls/portal/PORTAL.wwv_media.show?p_id=460428&p_settingssetid=1&p_settingssiteid=33&p_siteid=33&p_type=basetext&p_textid=460429

Sản xuất kim cương nhân tạo cỡ lớn

Phương pháp chế tạo kim cương của nhóm cũng tuân theo phương pháp lắng bay hơi hoá học (CVD) thường được sử dụng kim cương nhân tạo. Theo phương pháp này các nguyên tử cácbon trong một chất khí sẽ được làm lắng trên một bề mặt để tạo ra các tinh thể kim cương.

Quy trình CVD cho phép sản xuất ra kim cương một cách nhanh chóng, nhưng những tạp chất của chất khí cũng sẽ bị hấp thụ và kim cương sẽ có những vệt nâu. Có thể làm sạch những tạp chất này bằng cách xử lý dưới áp xuất cao, nhiệt độ cao. Mặc dù phương pháp xử lý này có chi phí rất cao nhưng chỉ có thể sản xuất ra những hạt kim cương tương đối nhỏ. Cho tới nay, hạt kim cương màu vàng lớn nhất được sản xuất theo cách này chỉ đạt kích cỡ 34 carat.

Ở công trình nghiên cứu của nhóm, các nhà nghiên cứu đã đạt tới giới hạn kích thước bằng cách sử dụng vi sóng để “nấu” các hạt kim cương trong môi trường hydro plasma ở nhiệt độ 2200 độ C nhưng dưới áp xuất thấp. Kích thước của hạt kim cương hiện chỉ bị giới hạn ở kích thước của lò vi sóng mà nhóm sử dụng.

Nhóm nghiên cứu cho biết, khía cạnh tiến bộ nhất của quy trình tôi luyện mới này là có thể xử lý các tinh thể kim cương không hạn chế về kích thước. Cú đột phá này sẽ cho phép nhóm tiến hành sản xuất hàng kilocarat kim cương có chất lượng cao. Hơn nữa, sử dụng lò vi sóng sẽ rẻ hơn nhiều so với sử dụng các dụng cụ áp xuất cao có kích thước lớn. Ngoài ra, kim cương tổng hợp theo phương pháp này cũng chứa ít tạp chất hơn kim cương tự nhiên.

NACESTI (Theo Newscientist, 13/11/2008)

Trích – http://www.vista.gov.vn/pls/portal/PORTAL.wwv_media.show?p_id=506189&p_settingssetid=1&p_settingssiteid=33&p_siteid=33&p_type=basetext&p_textid=506190