Category Archives: KL kiềm-kiềm thổ

PHẤN VIẾT BẢNG

Cacbonat canxi được sử dụng rộng rãi trong vai trò của chất kéo duỗi trong các loại sơn, cụ thể là trong sơn nhũ tương xỉn trong đó thông thường khoảng 30% khối lượng sơn là đá phấn hay đá hoa.

Cacbonat canxi cũng được sử dụng rộng rãi làm chất độn trong chất dẻo. Một vài ví dụ điển hình bao gồm khoảng 15 – 20% đá phấn trong ống dẫn nước bằng PVC

không hóa dẻo (uPVC), 5 đến 15% đá phấn hay đá hoa tráng stearat trong khung cửa sổ bằng uPVC. Cacbonat canxi mịn là thành phần chủ chốt trong lớp màng vi xốp sử dụng trong tã giấy cho trẻ em và một số màng xây dựng do các lỗ hổng kết nhân xung quanh các hạt cacbonat canxi trong q

uá trình sản xuất màng bằng cách kéo giãn lưỡng trục.

Cacbonat canxi cũng được sử dụng rộng rãi trong một loạt các công việc và các chất kết dính tự chế, chất bịt kín và các chất độn trang trí. Các keo dán ngói bằng gốm thường chứa khoảng 70-80% đá vôi. Các chất độn chống nứt trang trí chứa hàm lượng tương tự của đá hoa hay đolomit. Nó cũng được trộn lẫn với mát tít để lắp các cửa sổ kính biến màu, cũng như chất cản màu để ngăn không cho thủy tinh bị dính vào các ngăn trong lò khi nung các đồ tráng men hay vẽ bằng thuốc màu ở nhiệt độ cao.

Cacbonat canxi cũng được sử dụng rộng rãi trong y tế với vai trò là thuốc bổ sung khẩu phần canxi giá rẻ, chất khử chua và/hoặc chất gắn phốtphat. Nó cũng được sử dụng trong công nghiệp dược phẩm làm chất nền cho thuốc viên làm từ loại dược phẩm khác.

Cacbonat canxi được biết đến là “chất làm trắng” trong việc tráng men đồ gốm sứ nơi nó được sử dụng làm thành phần chung cho nhiều loại men dưới dạng bột trắng. Khi lớp men có chứa chất này được nung trong lò, chất vôi trắng là vật liệu trợ chảy trong men.

Nó cũng thường được gọi là đá phấn vì nó là thành phần chính của phấn viết bảng. Phấn viết ngày nay có thể hoặc làm từ cacbonat canxi hoặc là thạch cao, sulfat canxi ngậm nước CaSO4·2H2O.

Ở Bắc Mỹ, cacbonat canxi đã bắt đầu thay thế cao lanh trong việc sản xuất giấy bóng. Châu Âu đã thực hiện việc sản xuất giấy kiềm hay sản xuất giấy không axit trong nhiều thập kỷ. Cacbonat có sẵn dưới các dạng: cacbonat canxi ngầm hay cacbonat canxi kết tủa. Loại kết tủa này rất mịn và có kích cỡ hạt khống chế được, có kích thước ở mức đường kính khoảng 2 micron, hữu dụng trong việc làm lớp tráng ngoài của giấy.

Là một phụ gia thực phẩm, nó được sử dụng trong một số sản phẩm sữa đậu nành như một nguồn bổ sung khẩu phần canxi.

Sắp tới năm học mới, sau một thời kỳ nghỉ hè, thầy trò các trường lại tiếp tục sự nghiệp học tập và giảng dạy của mình. Sách, vở, bút, mực chắc chắn là những phương tiện thiết yếu cho học tập chắc không có ai quên mua sắm. Nhưng có một đồ dùng học tập và giảng dạy cũng không kém phần quan trọng đặc biệt đối với các thầy cô và các cháu học sinh nhỏ, đó là viên phấn thì cũng nên biết để lựa chọn cho phù hợp.

Trước đây khi chưa có phấn người ta thường lấy các vật liệu tự nhiên có đặc tính dễ mài mòn và để lại dấu vết trên bề mặt cần vẽ để làm “phấn” Những vật liệu “phấn” nguyên thủy nhất là đất sét, than củi v.v… Những hình vẽ trong một số hang động cổ cho thấy tổ tiên loài người đã biết dùng “phấn” từ lâu. Cách đây không lâu người ta vẫn khai thác các loại đá phấn (một loại đá vôi CaCO3) để làm phấn dùng trong các trường học. Loại vật liệu này được xẻ thành những viên hình hộp chữ nhật nặng đến hàng vài chục gram. Người viết cũng phải có nghệ thuật sao cho lúc nào cũng tạo được một mỏm có diện tích khá bé trên viên phấn để có thể viết được những nét sắc trên bảng. Một viên phấn như vậy có thể sử dụng cả buổi giảng hoặc thậm chí một vài ngày. Về sau này người ta thấy thạch cao (canxi sulfat đihyđrat CaSO4.2H2O) có thể dùng làm phấn rất tốt. Tuy thế người ta ít dùng thạch cao dạng nguyên khai làm phấn mà tiến hành xử lý chế biến để có các loại phấn viên tiện dụng hơn. Đầu tiên thạch cao tự nhiên được khai thác từ mỏ dưới dạng các tảng đá tựa như đá vôi. Đá thạch cao được đem nung trong lò giống như nung vôi nhưng ở đây cấu trúc của canxisulfat không bị phân hủy mà chỉ có phản ứng loại bớt nước kết tinh.

CaSO4. 2H2O  ®   CaSO4. 1/2H2O + 3/2H2

Sản phẩm ra lò là thạch cao nửa nước sẽ được nghiền nhỏ để dùng vào nhiều việc: phụ gia xi măng, vật liệu bó bột trong y tế, làm các khuôn gốm v.v…, và một phần rất nhỏ dùng để làm phấn viết bảng.

Để làm phấn người ta pha thạch cao bột thành dung dịch dạng sữa và đổ khuôn. Phản ứng đóng rắn của thạch cao chính là quá trình hyđrat hóa, tạo liên kết tinh thể đihyđrat. Phản ứng có tỏa nhiều nhiệt và chính là quá trình ngược với quá trình nung thạch cao ở trên. Phấn đổ khuôn theo các hình dạng khác nhau và có thể được trộn thêm bột màu để làm phấn màu.

Các loại “phấn viết thạch cao” và các loại phấn thợ may trước đây được chế tạo theo kiểu như vậy. Ưu điểm của các loại phấn này là dễ gia công, giá thành hạ nhưng nhược điểm của chúng là viên phấn cứng, nếu viết lâu sẽ bị mỏi tay và có nhiều bụi. Có bài hát về những bụi phấn vương trên mái tóc điểm bạc của thầy giáo già nghe sao cảm động và lãng mạn. Nhưng quả thực sự phát thải bụi phấn như vậy chẳng hề lãng mạn chút nào vì nó làm cho những “lái đò” suốt đời “bán cháo phổi” (các thầy cô giáo) càng dễ bị hao tổn sức khỏe thêm. Yêu cầu giảm bụi phấn viết đã kích thích ý tưởng chế tạo các loại “phấn không bụi”. Vậy các sản phẩm được gọi là “phấn không bụi” có thực là không phát sinh bụi không? Viên phấn có các tính năng sử dụng tốt phải đáp ứng được các yêu cầu sau:

1. Mềm vừa phải (dễ bị mài mòn để lại vết trên bảng) khi sử dụng không cần ấn mạnh gây mỏi tay.

2. Không hoặc ít tạo bụi.

3. Đỡ hao khi sử dụng (tốc độ mài mòn rất ít).

4. Không độc hại.

5. Giá thành chấp nhận được.

Một số yêu cầu này xem ra khá mâu thuẫn nhau nhất là yêu cầu 1 và 2; 1 và 3.

Để giải quyết các mâu thuẫn như trên, các nhà chế tạo phấn đã phải cải tiến kỹ thuật công nghệ và thay đổi nguyên liệu.

– Về nguyên liệu chính:

Người ta thay nguyên liệu thạch cao truyền thống bằng một loại bột nhẹ (CaCO3) phù hợp có độ phủ, độ mịn và độ trắng cao, đảm bảo chỉ cần một lớp rất mỏng đã có thể cho các nét viết rõ rệt. Như vậy về mặt nguyên liệu người ta lại quay về với họ hàng của đá phấn ngày xưa. Dĩ nhiên ngoài CaCO3 một số cơ sở sản xuất vẫn còn pha trộn thêm một số loại chất khác như thạch cao, bột đá phấn và không loại trừ cả một lượng nhỏ TiO2 v.v…để đáp ứng một số yêu cầu cụ thể.

– Về công nghệ

Người ta chuyển từ công nghệ rót khuôn sang công nghệ đúc ép. Nguyên liệu bột được phối trộn với một dung dịch kết dính (keo) hữu cơ đặc biệt đến một độ dẻo cần thiết và gia công viên phấn theo kiểu đúc ép hoặc ép đùn.

– Các phụ gia: Điểm mấu chốt của phấn không bụi chính là các phụ gia có trong thành phần viên phấn. Thực chất “phấn không bụi” không có nghĩa là không phát bụi, bởi vì khi viết, viên phấn phải bị mài mòn (Vỡ cấu trúc tại nơi tiếp xúc) và để lại một lớp vật liệu phấn trên bề mặt bảng. Vấn đề là ở chỗ tại nơi vỡ cấu trúc, các hạt phấn cực nhỏ không tản ra mà co cụm, liên kết ngay với nhau thành các tập hợp lớn hơn, một phần lưu trên bảng thành nét vẽ, còn một phần rời ra dưới dạng các hạt khá lớn ít gây ảnh hưởng bụi cho người viết.

Để có được các tính năng này người ta đã pha vào thành phần vật liệu viên phấn một số hợp chất dạng dầu, mỡ, sáp (chất hóa dẻo OP, mỡ động thực vật v.v…) với hàm lượng rất nhỏ (vài phần nghìn). Dưới đây xin giới thiệu thành phần phối liệu của một loại phấn không bụi..

Phối liệu phấn gồm: bột nhẹ CaCO3, keo kết dính (dung dịch polyvinylalcol PVA) và chất làm mềm (chất hoá dẻo OP hoặc dầu parafin, mỡ động vật).

Bột được trộn cán với keo và chất dẻo hóa. Người ta thêm nước để có được khối phối liệu có độ ẩm phù hợp cho ép khuôn đùn. Thành phần cuối cùng của viên phấn khô sẽ vào cỡ:

– Bột nhẹ 99%

– PVA 1%

– Chất hóa dẻo OP (hoặc dầu mỡ) 0,2 – 0,3%

Các bạn thấy không, viên phấn tuy bé nhỏ đơn giản nhưng cũng có nhiều chuyện để nói đấy chứ!

Sưu tầm

Advertisements

Kim loại kiềm thổ

  • Bề mặt nước trong các thùng vôi lâu ngày sẽ có lớp váng mỏng do có phản ứng :

Ca(OH)2 + CO2 —-> CaCO3 + H2O

  • Phích nước, ấm đun nước lâu dần có lớp cặn. Để làm sạch lớp cặn này, cách đơn giản là dùng giấm ăn do acid CH3COOH có trong giấm ăn làm tan được cặn (thường là CaCO3, MgCO3).
  • Trong các hang động có nhiều thạch nhũ hình dáng khác nhau, trông lạ và rất đẹp. Đó chính là kết quả lâud ài của sự chuyển hóa lẫn nhau giữa hai muối Ca(HCO3)2 và CaCO3. Khi gặp nước mưa và khí cacbonic trong không khí, CaCO3 chuyển hóa thành Ca(HCO3)2 tan trong nước, chảy qua khe đá vào trong hạng động. Dần dần Ca(HCO3)2 lại chuyển hóa thành CaCO3 rắn. Quá trình này xảy ra lâu dài tạo nên thạch nhũ với những hình thù khác nhau

CaCO3 + H2O + CO2 —> Ca(HCO3)2

  • Vôi sống CaO để lâu ngoài không khí bị vón cục- không tan trong nước do khí cacbonic trong không khí tác dụng với CaO:

CaO + CO2 —> CaCO3

Diễn đàn H2VN

♣ BẮN CHÁY TÀU CHIẾN ĐỊCH

– Hoá chất: Natri ( hoặc kali), phenolphtalein
– Dụng cụ: chậu nước
– Cách làm: Dùng loại giấy thấm nước để gấp một cái tàu chiến. Bỏ vào trong tàu một mẫu Na ( hoặc K) to bằng hạt đậu rồi thả vào chậu nứơc đã được nhỏ thêm vài giọt phenolphtalein không màu.
Sau vài phút tàu sẽ tự bốc cháy và nước trong chậu có loang màu hồng từ chỗ con tàu cháy, giống như cảnh tàu chiến địch bị bắn cháy, máu giặc nhuốm đỏ dòng sông.
– Giải thích: Nước thấm qua giấy, tác dụng với natri ( hoặc kali) theo phản ứng:
2Na + 2H2O 2 NaOH + H2
Phản ứng toả nhiều nhiệt làm cho khí hiđro thoát ra tự bốc cháy, đồng thời NaOH ( hoặc KOH) sinh ra làm cho phenolphtalein không màu chuyển sang màu hồng.
Sưu tầm

Theo Những điều kỳ thú của hóa học-Nguyễn Xuân Trường

Làm chữ bí mật

– Cách 1:


+ Mua một ít KNO3, đem hòa tan vào nước (tạo thành dung dịch loãng)
+ Sau đó lấy bút dạ hết mực. Lấy dung dịch KNO3 vừa thu được làm mực.
+ Viết lên giấy trắng như bình thường.
+ Đem phơi khô. Thu được giấy trắng không màu.
+ Muốn xem chữ -> đem đốt.


Giải thích:

Giấy trắng có thành phần chính là xenlulozơ đã được sử lý. Khi cháy thường không bị cháy hết (có muội than). Khi cho dung dịch KNO3 lên giấy, KNO3 cung cấp oxi giúp cho giấy cháy triệt để hơn (tạo thành muội trắng). Khi quan sát bằng mắt có thể phân biệt được chỗ cháy có KNO3 và chỗ không có KNO3 -> Chữ cháy sẽ trắng hơn so với cả miếng giấy.

Chú ý:

+ Muốn đọc được chữ thì phải chú ý quan sát nhé
+ Không nên dùng dung dịch KNO3 quá đặc


– Cách 2:


Lấy dung dịch bazơ (NaOH) làm mực viết lên giấy. Sau đó đem phơi khô thu được giấy trắng.

Muốn xem lại chữ chỉ cần nhỏ dung dịch phenol phtalein lên giấy khô. Sẽ đọc được chữ.

Cái này hay hay cho ai muốn tỏ tình bí mật nhé!

Theo victonh.wordpress.com

"Ðiệu vũ natri"

Ðổ 30ml nước cùng vài giọt phenolphtalein vào một cốc dung dịch 100ml và rót 50ml dầu hỏa lên trên mặt nước. Lấy một miếng natri cạo sạch nhỏ bằng hạt đậu đặt cẩn thận lên lớp dầu hỏa. Natri chìm xuống, nổi lên rồi lại chìm xuống, cứ như thế khoảng 10 – 12 lần cho đến khi miếng natri tan hết. Trong khi đó lớp nước phía dưới từ trong suốt trở thành đỏ hồng.


Giải thích:

Natri nặng hơn dầu hỏa nên chìm xuống. Nhưng khi tiếp xúc với nước nó lập tức tác dụng với nước giải phóng khí H2. Bọt khí H2 bao bọc mẩu natri và đệm khí đó đẩy nó nổi lên lớp dầu hỏa. Tại đây, các bọt khí tách ra và mẩu natri bị chìm xuống. Dung dịch trở nên màu đỏ hồng là sau phản ứng tạo ra dung dịch kiềm.

2Na + 2H2O = 2NaOH + H2

Theo Những điều kỳ thú của hóa học-Nguyễn Xuân Trường

Công dụng từ hành tây

Thứ sáu, 21 Tháng mười hai 2007, 20:00 GMT+7

Mỗi ngày 1/4 củ hành tây giúp hạ huyết áp. Đó là lời khuyên dành cho những người cao huyết áp, mắc bệnh mạch vành và xơ cứng động mạch.

1. Giá trị dinh dưỡng của hành tây

Hành tây là loài cây có nguồn gốc từ Trung Đông. Theo những sách cổ ghi lại thì giá trị dinh dưỡng của hành tây đã được biết đến từ rất sớm. Hành tây còn là món rau quan trọng bữa ăn của những người thợ xây dựng Kim tự tháp.

Hành tây vừa được xem là một loại gia vị vừa như một loại rau rất giàu kali, selen và vitamin C. Thành phần selen có nhiều trong hành tây rất tốt cho da, móng và tóc. Ngoài ra, chất quexetin trong loại rau củ này có tác dụng chống oxy hoá rất mạnh. Hai thành phần này kết hợp giúp khử các gốc tự do, nguyên nhân gây nên nếp nhăn và sự chai cứng da.

Trong thành phần dinh dưỡng của hành tây không chứa chất béo, có khả năng làm giảm sức cản ngoại vi, đối kháng với tác dụng làm tăng huyết áp, duy trì sự ổn định của quá trình bài tiết muối trong cơ thể. Chính vì vậy, hành tây có tác dụng giảm huyết áp hiệu quả và an toàn hơn các loại thuốc hạ huyết áp.

Ngoài ra, vỏ hành tây còn chứa nhiều rutin, rất có lợi cho việc làm vững bền thành mạch, dự phòng tai biến xuất huyết não.

2. Hành tây một vị thuốc chữa bệnh

Từ vai trò là nguyên liệu để chế biến món ăn ngon hàng ngày, hành tây ẩn chứa nhiều bất ngờ trong việc bảo vệ sức khoẻ cũng như chữa một số chứng bệnh nhẹ hay gặp phải. Vì chứa chất phytonxit – một loại kháng sinh mạnh, hành tây được dùng trong chữa nhiều bệnh như ho, trừ đờm, kích thích tiết mồ hôi, lợi tiểu, chống phù thũng, trị bệnh cổ chướng, tiểu đường, giúp ngủ ngon, làm tiêu nhanh các chất bột, trừ giun đũa, trừ ho, chống béo phì, xơ cứng động mạch, chống muỗi, dĩn.

Khi dùng ngoài, hành tây có thể trị áp xe, chín mé, mụn nhọt, chân nứt nẻ, mụn cóc, đau nửa đầu, đau dây thần kinh ngoại biên. Hành tây cũng được khẳng định là một loại viagra tự nhiên rất hiệu quả. Sau đây là một số mẹo nhỏ chữa bệnh từ hành tây:

– Trị phong thấp: 3 củ hành tây xắt lát, đổ 1 lít nước, đun khoảng 10-15 phút. Ngày uống 2 ly vào sáng và tối lúc đói bụng.

– Tiêu chảy: Vỏ lụa hành tây 1 nắm. Đun nước uống trong ngày.

– Tắc mũi, khó thở: Vào mùa lạnh, khi cảm cúm, bạn thường bị tắc mũi, khó thở, khi ấy, bạn cắt một lát hành tây rồi nhét vào mũi.

– Hành tây cắt nhỏ cho vào nấu chín uống lúc còn nóng hoặc cho vào cháo ăn nóng sẽ có tác dụng giải cảm, ra mồ hôi và giải nhiệt rất nhanh.

– Đặt một vài lát hành thái nhỏ bên cạnh có thể đuổi muỗi và chữa bệnh khó ngủ.

– Hành tây thái lát, phơi khô đem nấu với nước uống rất tốt cho tiêu hoá và làm ấm bụng.

– Dùng một ít dầu ăn nóng rưới lên hành tây đã xắt mỏng rồi ăn sống, nếu thích có thể thêm vào một ít đậu phụ, có thể ngăn ngừa bệnh cảm cúm trong mùa đông.

3. Một số mẹo vặt trong bếp với hành tây

Khử mùi: Dùng cọng hành tây cho vào nồi cơm bị khê khi còn nóng, đậy nắp lại, mùi khó chịu này sẽ biến mất. Hoặc khi nhà nồng nặc, đặt miếng hành tây bên cạnh, mùi của hành tây hết và mùi sơn cũng hết.

Cho hai cọng hành tây vào xì dầu hoặc giấm có thể giúp chúng không bị mốc.

Làm sạch đồ dùng nhà bếp: bằng cách lấy rễ hành tây chà bề mặt đồ dùng bám dầu mỡ. Đặc biệt với đồ đồng, thiếc sẽ sáng đẹp.

Lau cửa kính: Cắt đôi củ hành tây, lấy mặt cắt chà lên cửa kính. Sau đó, dùng vải khô lau thật nhanh trước khi nước hành khô, mặt kính sẽ bóng loáng như mới.

Ngăn ruồi đậu lên thức ăn: Rửa sạch thực phẩm, để ráo nước, đặt vài cọng hành tây đã rửa sạch lên trên, ruồi sẽ tránh xa.

Xử lý dao bị gỉ: Cắt đôi củ hành tây, chà mặt cắt lên phần dao gỉ, vết gỉ sét sẽ biến mất.

4. Chú ý khi dùng hành tây

Hành tây và các anh em họ hàng của nó như tỏi, tỏi tây và hẹ tây luôn rất giàu hợp chất phytonutrient, có tác dụng bảo vệ tim nhưng lại gây hại cho dạ dày. Vì vậy với những người mắc bệnh dạ dày cần nấu chín để khử hoạt tính của hợp chất này hoặc trộn giữa hành sống và chín để giảm tác dụng phụ không mong muốn của hoạt chất. Nên chọn những củ hành tây còn tươi, nếu hành tây đã mọc mầm thì không nên dùng vì có thể sẽ gây ung thư.

(Theo Mỹ phẩm)
Việt Báo // (Theo_24h)

Chất siêu dẫn lithium dưới áp suất xung quanh

Như vậy, tính siêu dẫn hiển hiện ở 20 kelvin trong lithium được nén chắc chắn là do những thay đổi áp suất trong luồng dẫn electron. Tính siêu dẫn ở áp suát xung quanh cho tới nay vẫn chưa được chứng minh.

Nhóm nghiên cứu thuộc Phòng thí nghiệm trường Đại học Công nghệ Helsinki do Juha Tuoriniemi đứng đầu đã chứng minh được rằng tính siêu dẫn của lithium ở áp suất xung quanh ở nhiệt độ chuyển tiếp 0,4 millikelvin.

Khi coi lithium có một cấu trúc rất đơn giản, thì đó là một khám phá quan trọng cho phép sắp xếp các chất siêu dẫn.

NACESTI (theo Techno-Science.net; 29/10/2007, ảnh: Granules lithium được phủ bằng hydroxyde trắng lithium)

Trích: http://www.vista.gov.vn/pls/portal/PORTAL.wwv_media.show?p_id=432949&p_settingssetid=1&p_settingssiteid=33&p_siteid=33&p_type=basetext&p_textid=432950