Category Archives: Phân bón hóa học

Hai giải pháp giúp giảm thiểu ô nhiễm

Khu liên hợp xử lý rác Nam Sơn hiện đang gây ô nhiễm nặng. Kết quả điều tra về chất lượng nước ngầm xung quanh khu vực này cho thấy hầu hêt nước ngầm ở đây bị nhiễm các chất hữu cơ và nhiễm khuẩn…

Để giải quyết tình trạng này, cần nghiên cứu phổ biến rộng rãi công nghệ chế biến phân compost, bởi đây là một hình thức tái chế rất hữu hiệu các chất thải hữu cơ, không gây ô nhiễm và làm tăng tỷ lệ tận thu các loại chất thải có  thể tái chế được. Mặt khác chế biến phân compost có thể giảm thiểu ô nhiễm không khí và giúp giải quyết vấn đề hiệu ứng nhà kính (khí từ các bãi chôn lấp được tạo thành từ quá trình phân hủy các thành phần hữu cơ trong chất thải có chứa khoảng 50% khí mê tan, một loại khí có khả năng gây hiệu ứng nhà kính mạnh).

Tuy nhiên do nhiều nguyên nhân khác nhau nên việc chế biến phân compost từ chất thải hữu cơ chưa được phổ biến rộng rãi ở nước ta. Có thể kể đến một số nguyên nhân như: nguyên liệu đầu vào chất lượng kém, chất lượng phân hữu cơ chưa cao, tiếp thị sản phẩm còn chưa tốt…

Để góp phần cải thiện tình hình, cần giáo dục nâng cao ý thức cho người dân hiểu việc khi phân loại rác và nâng cao chất lượng phân là vô cùng cần thiết cho một thành phố đang lớn dần về quy mô và dân số. Và cũng chỉ có như vậy mới giải quyết dứt điểm tình trạng ô nhiễm do rác gây ra. Hiện Bộ Khoa học và Công nghệ đang hỗ trợ một chương trình thử nghiệm thực hiện phân loại chất thải tại nguồn đối với chất thải từ các hộ gia đình ở quận Hoàn Kiếm-Hà Nội (chất thải được phân thành 2 loại chính là hữu cơ và vô cơ).

Việc xử lý rác theo kiểu chôn lấp chỉ là giải pháp tạm thời, trong tương lai việc chế biến rác thành phân compost là hướng chính  nhằm góp phần bảo vệ môi trường.

Nguồn : “Báo HNM điện tử”, 24/1/2005

Buôn bán Nitro Benzen: "Được mùa" nhờ phân bón lá

Báo Nông nghiệp VN -

Vụ phân bón lá cao cấp BOOM FLOWER-n của Cty BVTV An Giang chứa 20% Nitro Benzen – một chất độc hại đang gây lo ngại trong nông dân. Trong khi đó theo điều tra của NNVN, việc buôn bán Nitro Benzen làm phân bón lá vẫn khá sôi động.

Thị trường có quá nhiều sản phẩm chứa Nitro Benzen khiến cho loại chất độc này đang “được mùa”

Theo tìm hiểu của PV NNVN từ năm 2001, Bộ Công nghiệp (cũ) đã đưa Nitro Benzen vào danh mục các hóa chất độc hại và yêu cầu việc nhập khẩu phải có điều kiện (Thông tư số 08/2001/TT-BCN, ngày 14/9/2001). Một doanh nhân chuyên buôn bán hóa chất ở TPHCM khẳng định với chúng tôi, trước đây do bị nằm trong danh mục hóa chất NK có điều kiện, nhu cầu tiêu thụ lại không lớn, nên việc buôn bán Nitrobenzen rất trầm lắng so với nhiều loại hóa chất khác.

Tuy nhiên, khoảng vài năm trở lại đây, nhu cầu tiêu thụ Nitro Benzen ở Việt Nam bỗng nhiên tăng đột biến, mà theo các nhà buôn hóa chất, chủ yếu là nhờ…phân bón lá. Cô Bảo Trân, hiện đang làm việc cho một VPĐD tại TPHCM của một công ty Hồng Kông cho biết, Cty này chuyên nhập các loại hóa chất từ Trung Quốc vào Việt Nam. Trước đây, Cty cũng có nhập Nitro Benzen nhưng tiêu thụ rất chậm. Hơn một năm trở lại đây, “nhờ” một loại phân bón lá của Cty BVTV An Giang có chứa Nitro Benzen bán khá chạy, cùng với nhiều Cty phân bón khác cũng nhào vô mua Nitro Benzen làm phân bón lá, nên loại hóa chất này được tiêu thụ nhiều hơn gấp bội.

Chính vì nhiều nhà SX phân bón lá đang “ăn” Nitro Benzen nên trong hầu hết các mẩu tin quảng cáo trên mạng rao bán Nitro Benzen, người ta ghi rõ luôn là để làm phân bón lá, và hóa chất này được quảng cáo rao bán chung với nhiều loại nguyên liệu SX phân bón khác. Đây là mẩu quảng cáo của VPĐD công ty Hồng Kông nói trên: “Chúng tôi cung cấp Nitro Benzen tinh chất 99%, mùi hạnh nhân cho các đơn vị sản xuất phân bón lá, vui lòng liên hệ 08-62581… gặp B hoặc email về agrilifevn@…Quý vị có thể tự nhập hoặc chúng tôi sẽ nhập và giao lại cho quý khách. Ngoài ra còn có Kali Tan nhanh, Canxi Bo, Amino acid và Humate, Humic với giá tốt, phục vụ dễ thương”.

Tiếp tục tìm hiểu, một công ty trên đường Minh Phụng (Q11, TPHCM) rao bán chất điều hòa sinh trưởng, hóa chất SX phân bón trong đó có Nitro thơm (Nitro Benzen) được đứng cùng “đội ngũ” với nhiều loại nguyên liệu SX phân bón khác như Humate-K, bột rong biển, Ureacalcium sulphate, Phosphorite, Dicalcium phosphate, Oligo-alginate…Trên một trang web chuyên quảng cáo bán hàng khác, trong mục “Phân bón, đạm, chất tăng trưởng” cũng có một công ty rao bán Nitro Benzen nhập từ Trung Quốc, chất lượng 95%.

Vì tưởng chúng tôi là nhân viên kinh doanh của một công ty phân bón đang tìm mua Nitro Benzen để làm phân bón lá, nên cô Phụng Thủy, nhân viên kinh doanh của Cty TNHH H. chào mời khá nhiệt tình “Mấy công ty làm phân bón lá đặt mua Nitro thơm (Nitro Benzen) của tụi em nhiều lắm. Nitro thơm toàn nhập về từ Trung Quốc, chất lượng đảm bảo, hiện tại giá về tới cảng Sài Gòn là khoảng 2.000 USD/tấn. Anh muốn mua bao nhiêu cũng có?”. Tôi bảo định mua khoảng 10 tấn và hỏi có hàng ngay không? Phụng Thủy nói “Tụi em không có kho trữ hàng và cũng không trữ sẵn Nitro thơm. Nếu anh đặt mua, tui em sẽ liên hệ với bên Trung Quốc để nhập ngay hàng về, chỉ ít ngày sau là có”.

Liên hệ với công ty K. ở quận 6 về Nitro Benzen, tôi còn được nhân viên ở đây hỏi han tận tình hơn “Bên anh đã biết cách để pha Nitro Benzen chưa? Nếu chưa thì bên em sẽ giúp chuyển giao công nghệ. Phải nắm được công nghệ này thì mới đưa vào phân bón lá được. Còn nếu không mua Nitro Benzen về rồi để đó thì vừa lãng phí lại vừa độc hại”.

PV NNVN đã liên hệ qua điện thoại với ông Trương Hợp Tác – Trưởng phòng Sử dụng Đất và Phân bón (Cục Trồng trọt) thì ông này cho rằng việc đưa phân bón lá có chứa Nitro Benzen vào danh mục các loại phân bón được phép SXKD của Bộ NN- PTNT là một câu chuyện dài, và sau khi NNVN phản ánh vấn đề trên, Bộ trưởng Bộ NN- PTNT đã có chỉ đạo Cục Trồng trọt phải tiến hành xem xét lại loại phân bón này.

baomoi.com

Vai trò của kali đối với cây trồng

Trong mối quan hệ đất – phân bón, kali đóng một vai trò quan trọng trong sự sinh trưởng và phát triển của cây. Thiếu kali sẽ gây ảnh hưởng đến quá trình trao đổi chất trong cây, làm suy yếu hoạt động của hàng loạt các men, giảm quá trình trao đổi các hợp chất carbon và protein, đồng thời tăng chi phí đường cho quá trình hô hấp. Về hình thái, các lá trưởng thành sẽ vàng sớm bắt đầu từ bìa lá, sau đó bìa lá khô, đầu lá có đốm vàng hoặc bạc, có triệu chứng rách bìa lá dẫn đến giảm hiệu suất quang hợp. Đây là những nguyên nhân chủ yếu dẫn đến năng suất và chất lượng nông sản bị sụt giảm.

Nghiên cứu về vai trò của kali đối với cây trồng thể hiện rất khác nhau tùy theo từng loại đất. Hiệu lực cao nhất thường thấy trên đất xám bạc màu và trên đất cát biển. Đối với một số loại cây lấy hạt như ngô hiệu lực của kali khá cao, năng suất tăng từ 23 – 36% và hiệu lực của kali trung bình đạt từ 15 – 20 kg hại kg K2O. Đối với lúa vùng ĐBSCL hiệu lực của kali trung bình đạt 4,6 – 5,5 kg thóc/kg kali. Đối với cây công nghiệp ngắn ngày, kết quả khảo nghiệm của Tô Văn Thống (năm 1994) với cây đậu tương trên đất bạc màu cho thấy khi bón đơn thuần kali đã làm tăng năng suất khoảng 45% so với không bón, hiệu suất kali đạt từ 5,8 – 15 kg đậu/kg K2O. Với cây lạc (đặc biệt là trên chân đất bạc màu, đất cát biển) hiệu suất sử dụng kali từ 2,3 đến 8,2 kg lạc vỏ khô/kg K2O bón vào.

Như vậy đối với cây trồng, kali đóng vai trò quan trọng trong việc hình thành năng suất và chất lượng sản phẩm. Nhưng hiện nay, phần lớn kali chỉ được sử dụng ở các tỉnh đồng bằng và các vùng thâm canh cao.

Ở nước ta, nhu cầu kali hàng năm cho SXNN khoảng 1 triệu tấn, trên thực tế lượng kali được sử dụng dao động từ 700.000 đến 800.000 tấn/năm. Riêng vụ HT năm 2009, nhu cầu sử dụng kali khoảng 300.000 tấn nhưng thực tế lượng kali tồn ở trong nước chỉ khoảng 100.000 tấn. Như vậy, nếu không nhập thêm về sẽ xảy ra tình trạng thiếu kali. Nhưng hiện nay do lượng kali trên thế giới có xu hướng giảm, giá kali trên thế giới ở mức cao hơn nhiều so với giá trong nước, nên các DN không dám nhập. Lợi dụng hiện tượng thiếu hụt này, một số đơn vị, cá nhân đã sản xuất và tung ra thị trường các loại phân bón kali giả, kém phẩm chất.

Theo một số DNNK phân bón cho biết, đã có hiện tượng kali giả, phần lớn là cát nhuộm đỏ được đưa vào từ đường tiểu ngạch qua cửa khẩu Trung Quốc, thậm chí một số lượng hóa chất màu muối đỏ, chỉ có một hàm lượng kali rất nhỏ được nhập bằng container từ Ấn Độ được sang bao cũng đề là “MOP” để bán ra thị trường bà con nông dân nên hết sức cảnh giác vì nếu sử dụng các loại phân kali giả, kém chất lượng không những lãng phí về mặt kinh tế mà còn ảnh hưởng trực tiếp đến năng suất và chất lượng nông sản. Để tránh mua phải các loại kali giả, kém chất lượng nông dân nên tìm mua sản phẩm kali được NK và phân phối bởi các DN có uy tín lâu năm trên thị trường.

*(Nguồn: NNVN, 8/5/2009)

Ruộng đồng nhiễm độc!

Thứ hai, 15 Tháng một 2007, 14:41 GMT+7
Hàng triệu hecta đất nông nghiệp và cả ngàn dòng kênh đang mỗi ngày hứng chịu một khối lượng rất lớn chất độc hại thải ra từ phân hóa học, thuốc bảo vệ thực vật (BVTV) sử dụng trong quá trình canh tác của nhà nông ở đồng bằng sông Cửu Long. Cư dân đồng bằng đang phải chung sống với tình trạng ô nhiễm do mình gây ra.

Chất độc vứt vô tội vạ

Trung tuần tháng 1-2007 chúng tôi về ấp An Bình, xã An Cư (Cái Bè, Tiền Giang). Ở khu vực tổ 4 có khoảng 30ha đất ruộng sản xuất 3 vụ/năm xen đất rẫy canh tác các loại hoa màu. Tại một ruộng dưa hấu tết 2.000m2, trái đã to bằng bắp tay nhưng nhiều dây bị hư vàng úa, anh nông dân tên Dình đang ra sức phun thuốc trừ bệnh, bón phân cho dưa.

Xung quanh ruộng dưa chúng tôi đếm được hàng chục vỏ bao thuốc BVTV đủ mọi nhãn hiệu vứt tứ tung trên bờ và trôi lập lờ dưới dòng kênh nước chảy chậm chạp. Phun hết bình thuốc, Dình thản nhiên xé bao pha bình mới và vỏ bao thuốc được vứt xuống dòng kênh. Xem xét kỹ vỏ các bao thuốc thấy nhãn hiệu nào cũng ghi rõ: “Tránh xa tầm tay trẻ em và tiêu hủy nơi an toàn”, chúng tôi hỏi: “Sao anh không chôn hay đốt bỏ vỏ bao thuốc để tránh độc hại?”, Dình cười vô tư: “Ở đây ai cũng làm vậy, có thấy ai chôn, đốt đâu?”.

Đi một vòng cánh đồng của ấp An Bình, nơi nào cũng thấy vỏ bao thuốc BVTV đủ mọi nhãn hiệu vứt tràn lan trên đồng, dưới rạch. Điều kinh hãi nhất là dòng kênh này là nguồn nước duy nhất chảy qua khu vực tổ 4 ra rạch Ông Ngũ và đổ xuống sông An Cư. Ông Nguyễn Văn Cường, cư dân ấp An Bình, cho biết đã khá lâu người dân trong khu vực không dám sử dụng nước kênh để ăn uống, tắm giặt bởi nguồn nước đã bị ô nhiễm nặng do lượng phân bón, thuốc BVTV tồn dư trên đồng ruộng chảy xuống. “Cách nay vài năm con kênh này còn rất nhiều tôm cá nhưng bây giờ không con gì sống nổi. Nhiều người tắm nước kênh bị ngứa, nổi ghẻ nên không ai dám sử dụng nữa” – ông Cường nói.

Không riêng khu vực ấp An Bình mà bất cứ đâu của vùng nông thôn ĐBSCL cũng dễ dàng bắt gặp vô số chai lọ, bao bì đựng thuốc BVTV đủ loại nhãn hiệu vứt tràn lan khắp nơi. Thạc sĩ

Lê Hữu Hải, trưởng phòng NN&PTNT huyện Cai Lậy, bức xúc: “Tình trạng này rất phổ biến, làm môi trường canh tác (đất đai và nguồn nước) bị nhiễm độc trầm trọng, ảnh hưởng đến vật nuôi cây trồng và sức khỏe con người”.

Ruộng đồng nhiễm độc

Ở cù lao Chợ Mới của tỉnh An Giang, nơi nổi tiếng với nghề trồng rau màu, chuyện đất đai nhiễm độc cũng đang là vấn đề thời sự đối với nông dân. Theo số liệu thống kê của ngành nông nghiệp, từ năm 1995 toàn huyện Chợ Mới đã xây dựng được 76 tiểu vùng đê bao khép kín 23.000ha đất sản xuất nông nghiệp, đưa diện tích gieo trồng lên đến 75.000ha/năm với số vòng quay của đất trung bình gần 4 vụ/năm. Hiện tại nông gia trong huyện đang có xu thế giảm diện tích trồng lúa, tăng diện tích rau màu, bởi lẽ trồng màu có thể thu nhập 300 triệu đồng/ha/năm, vòng quay khai thác đất lên đến 6-7 vụ/năm trong khi còng lưng trồng lúa ba vụ chỉ thu được 42 triệu đồng/ha/năm.

Nhưng cái giá phải trả cho việc bắt đất đai quay 6-7 vòng sản xuất/năm không nhỏ. Ông Lê Thành Măng, chủ 1,4ha đất vừa trồng màu vừa trồng lúa ở ấp Hòa Trung, xã Kiến An, nói với chúng tôi đất đai những năm qua bị con người khai thác quá mức nên nhiễm độc trầm trọng bởi hàm lượng phân hóa học, vật tư nông nghiệp thẩm thấu trong đất rất cao. Ông Măng buồn rầu: “Hồi trước tôi bón 40kg phân/công đất (1.000m2) thu được 30-40 giạ lúa, nay bón 60kg nhưng thu chỉ

20 giạ/công”. Những người trồng rau màu khác, tình cảnh cũng không khá gì. Trong khi đó ở vùng tứ giác Long Xuyên và Đồng Tháp Mười dù năng suất lúa vẫn có thể đạt 18 tấn/ha/năm nhưng tình trạng đất đai nhiễm độc do nông dân lạm dụng phân hóa học, thuốc BVTV cũng đang ở mức báo động đỏ. Nhiều cán bộ ngành nông nghiệp các tỉnh nói trong nhiều yếu tố dẫn đến bệnh vàng lùn, lùn xoắn lá hoành hành trên hàng chục ngàn hecta ruộng lúa ở ĐBSCL trong thời gian qua có một phần do đất đai bị nhiễm độc nặng, không còn màu mỡ, trong lành nên sức đề kháng của cây lúa cũng giảm.

Bó tay với ô nhiễm?

Theo tiến sĩ Nguyễn Hữu Chiếm, trưởng khoa quản lý môi trường và tài nguyên thiên nhiên Đại học Cần Thơ, tình trạng đồng ruộng đang ngày càng nhiễm độc là vấn đề rất đáng quan ngại. Có nhiều yếu tố dẫn đến ruộng đồng bị nhiễm độc, nhưng có thể nói việc các địa phương thi nhau đắp đê bao triệt để trong nhiều năm qua đã làm độ màu mỡ của đất ngày càng giảm, từ đó nông gia ngày càng lạm dụng phân bón hóa học, thuốc BVTV để buộc cây trồng phải cho năng suất cao, ít sâu bệnh là nguyên nhân nổi cộm nhất. Đê bao ngăn sự trao đổi nước tự nhiên để làm sạch môi trường nên cặn bã, độc chất trong quá trình sản xuất nông nghiệp và sinh hoạt của con người bị lắng đọng, tồn lưu trong đất, gây nhiễm độc đất.

Trong khi đó thạc sĩ Lê Hữu Hải cho rằng lâu nay các nhà khoa học, ngành nông nghiệp và chính quyền các địa phương chỉ có thể vận động nông dân ý thức tự giác tiêu hủy bao bì thuốc BVTV và tránh lạm dụng thuốc hóa học để giảm thiểu tác hại đến môi trường sống chứ chưa có bất kỳ biện pháp chế tài nào để xử lý hành vi phát tán bừa bãi chất độc từ thuốc BVTV vào nguồn nước và đồng ruộng nên nhà nông… không sợ.

Theo ông Hải, hiện nay chưa có một nghiên cứu đầy đủ nào để xác định lượng độc chất từ nguồn phân bón hóa học, thuốc BVTV đang tồn lưu trên đồng ruộng các tỉnh ĐBSCL, nhưng có thể nói mức độ ô nhiễm đang rất nghiêm trọng và muốn tẩy rửa sạch cần phải có thời gian rất dài và số tiền rất lớn.

HÙNG ANH
Việt Báo // showsource(“4″); // (Theo_TuoiTre)

PHÂN BÓN HÓA HỌC

Đầu tiên chia ra làm 2 loại : Phân bón đơn và phân bón kép.
1) Phân bón đơn:
a.Phân đạm(chứa N):Phân Urê:CO(NH2)2 chứa 46.67%N
-Phân amoni nitrat NH4NO3(đạm 2 lá)
-Phân amoni clorua NH4Cl
-Phân amoni sunfat (NH4)S04(đạm 1 lá)
b) Phân lân(chứa P):Phân lân tự nhiên Ca3(P04)2
-Phân supe phôphat kép Ca(H2P04)
-Phân supe phôphat đơn Ca(H2P04)2 và CaS04
c) Phân Kali (chứa K) thường dùng là :K2S04,KCl
2) Phân bón kép là loại chứa 2,3 nguyên tố dinh dưỡng trên:
*KN03;(NH4)2,H2P04
Pbk NPK là hh gồm:NH4,N03,Ca(H2P04)2 và KCl
3) Phân vi lượng : B,Zn,Mn

LỢI ÍCH

Nguyên tố N:kích thích cây trồng phát triển mạnh.
Nguyên tố P:kích thích sự phát triển của bộ rễ thực vật.
Nguyên tố K:tổng hợp nên chất diệp lục và kích thích cây trông ra hoa,làm hạt.
Nguyên tố S:tổng hợp nên protein
Nguyên tố Ca,Mg cần cho thự vật để sinh sản chất diệp lục.
Các nguyên tố vi lượng,cây cần rất ít nhưng lại cần thiết cho sự phát triển của cây trồng.

TÁC HẠI:

Nếu dùng quá nhiều phân đạm,lân so với nhu cầu cây trồng sẽ gây ô nhiễm nặng nề nguồn nước sông hồ,nguồn nước ngầm.
Nguồn  http://community.h2vn.com/index.php?PHPS

CTCT, thành phần hóa học, phương pháp sử dụng supe lân

on Dec 18, 2008

CTHH:Ca(H2PO4)2.H2O + CaSO4
-Thành phần:P2O5 chiếm 16-18%(biến động trong phạm vi 14-21%);8-12%S;khoảng 23%CaO;4%H2SO4.Tỷ lệ CaSO4 chiếm 40% trọng lượng cảu phân.
-Tính chất:supe lân chứa lân ở dạng H2PO4- hòa tan trong nước,rất dễ được cây sử dụng.Đây là loại phân bón vừa chúa lân vừa chứa lưu huỳnh đều ở dạng rất dễ tiêu đối với cây.
Phân có độ chua hóa học do có lượng acid trong thành phần,nhưng cũng chứa lượng khá lớn CaO nên tự có tác dụng khử bớt chua.Supe lân có mùi hắc,độ ẩm khá cao,màu xám trắng hay xám sẫm(tùy theo nguyên liệu dùng để ché biến),dạng bột hoặc dạng viên.
-Phương pháp sử dụng:sử dụng tốt nhất trên đất trung tính,nếu bón cho đất quá chua thì phải bón vôi trước để trung hòa độ chua của đất tới khoảng pH=6,5 thì mới phat huy hết hiệu quả của nó.
Có thể dùng để bón lót,bón thúc cho các loại cây trồng,nhuang bón lót vẫn cho hiệu quả cao nhất.Supe lân là loại phân lân duy nhất có thể dùng để bón thúc.
Đối với cây trồng màu nên dùng supe lân viên,đối với đất trồng lúa thì supe lân viên và bột đều cho hiệu quả ngang nhau.
Để nâng cao hiệu quả sử dụng của supe lân ,nên trộn supe lân với phân lân tự nhiên(apatit,phosphorit…),phân chuồng,nước giải trước khi bón cho cây trồng.Bón supe lân cho các loại cây mẫn cảm với S như:cây họ đậu,cây họ thập tự,các loại rau,cây thuốc.Phối hợp sử dụng các loại phân lân supe với phân lân thiên nhiên có thể tạo ra tác dụng tốt nhiều mặt:hòa tan lân khó tiêu trong lân tự nhiên,trung hòa độ chua của supe lân đảm bảo cung cấp lân tốt cho cây.

Sưu tầm

Sóc Trăng: Thay thế phân hóa học bằng phân hữu cơ vi sinh

Ngày cập nhật: 08-04-2009

(HG) – Chi cục Bảo vệ thực vật (BVTV) tỉnh Sóc Trăng cho biết, nhiều nông dân đã biết cách ủ phân hữu cơ với nấm Trichoderma cùng 2 vi khuẩn cố định đạm và hòa tan. Kiểm chứng bón loại phân này từ 2 vụ rau màu vừa qua đạt hiệu quả cao.

Từ tháng 6-2008 đến nay, Chi cục BVTV tỉnh Sóc Trăng đã tiến hành thực hiện 9 mô hình ủ phân hữu cơ vi sinh cho nông dân tại các huyện Mỹ Tú, Mỹ Xuyên, Long Phú, Vĩnh Châu và TP.Sóc Trăng. Nông dân tham gia mô hình đều thừa nhận hiệu quả ứng dụng vào thực tế sản xuất trên rau màu như ớt, dưa leo, khổ qua, dưa hấu… vừa tiết kiệm được chi phí phân bón và thuốc BVTV mà năng suất, hiệu quả đạt cao hơn từ 10-15% so với cách dùng phân hóa học. Sản phẩm đạt chất lượng và đảm bảo an toàn vệ sinh thực phẩm.

*ĐỨC TOÀN

Follow

Get every new post delivered to your Inbox.