Category Archives: Oxi-Ozon

Thực nghiệm lớn của Lavoisier

Bất kỳ ai trong chúng ra hiện nay đều hiểu rằng nước được kết hợp từ oxy va hiđro. Thế nhưng ở thế kỷ 18, người ta còn hoàn toàn chưa biết điều này. Chỉ tới năm 1785 , khi Antoine Lavoisier chứng minh bằng thực nghiệm rằng nước là một hợp chất được tạo thành từ hai loại khí: oxy và hiđro thì lịch sử hóa học có thêm một cột mốc mới.

“Nước không phải là đơn chất[…]. Nó có khả năng phân rã cũng như tái tạo lại”. Antoine Lavoisier đã khẳng định như vậy trong bài phát biểu vào ngày 12 tháng 11 năm 1783 trước phiên họp toàn thể của Viện Hàn lâm khoa học Paris. Lời khẳng định này được đưa ra sau khi Antoine Lavoisier tiến hành các thực nghiệm rất tốn kém kéo dài trong nhiều tháng trời và nó hoàn toàn ngược lại với quan niệm của nhiều nhà hóa học thời đó khi cho rằng nước là một đơn chất. Vào tháng 4 năm 1784, Lavoisier tiếp tục đưa ra các kết quả nghiên cứu mới trước Viện Hàn lầm để khẳng định tuyên bố của mình nhưng cộng đồng khoa học lúc đó vẫn tiếp tục nghi ngờ. Không nản lòng, Lavoisier tiếp tục một đợt thực nghiệm lớn diễn ra từ ngày 27/2 cho tới 1/3/1785 trước sự chứng kiến của một hội đồng các nhà khoa học gồm các nhà hóa học lớn của Viện Hàn lâm và nhiều khách mời quan trọng.
Các thực nghiệm này đã chứng minh được rằng nước có thể phân thành hai chất khác nhau sau đó hai chất này với cùng tỉ lệ kết hợp lại với nhau để trở thành nước như ban đầu. Nhằm mục đích khẳng định và củng cố giả thiết đưa ra ban đầu, các thực nghiệm này thực sự đã trở thành một sự kiện, một cột mốc quan trọng trong lịch sử của ngành hóa học. Chúng đã phá vỡ bức màn bao phủ về thành phần tự nhiên của nước và cung cấp các bằng chứng có tính chất quyết định cho quan niệm hóa học của Lavoisier, chống lại lý thuyết nhiên tố vốn rất thịnh hành lúc bấy giờ.
Những thực nghiệm của Lavoisier đã chứng tỏ được rằng tổng khối lượng của các chất khí sử dụng tương
đương với khối lượng của toàn bộ số nước thu được. “Người ta có thể áp dụng nguyên tắc này cho tất cả các hoạt động khác: luôn có một khối lượng giống nhau về chất liệu trước và sau một phản ứng hóa học và tính chất cũng như trọng lượng của các chất này là như nhau và chỉ có sự thay đổi hoặc biến đổi (tính chất) của chất được tạo thành mà thôi”, ông đã viết như vậy trong cuốn Chuyên luận cơ bản về hóa học (Traité élémentaire de chimie) vào năm 1789.
Lúc mới bắt đầu nghiên cứu khoa học, Lavoisier quan sát các chất cháy trong không khí, thí dụ như phốt pho, lưu huỳnh, cacbon, kim loại dễ nóng chảy như chì, thiếc và ông nhận thấy khối lượng của các chất này tăng lên. Điều này chứng tỏ có một cái gì đó trong không khí đã được thêm vào chất đang cháy. Ông tiến hành các thực nghiệm theo giả thiết đó và viết kết quả vào một cuốn sách có tên Cẩm nang về vật lý và hóa học (Opuscule physiques et chimies), xuất bản năm 1774.

“Khí cơ bản” hay oxy
Dù vậy thì Lavoisier vẫn chưa thể xác định, nói cụ thể hơn là cô lập và đặt tên được cái chất có trong không khí thường xuất hiện trong mỗi lần cháy. Mà nó lại được Joseph Priestley, một nhà hóa học tên tuổi người Anh xác định ra vào ngày 1/8/1774 và ông này đặt tên là khí ngược nhiên tố (air déphlogistiqué). Nhiên tố, hay còn gọi là thành phần cơ bản của tính gây cháy là một nguyên lý chi phối sự cháy của các chất. Theo cách lý giải như vậy, không khí chứa một phần khí ngược nhiên tố và đa phần khí nhiên tố. Cách lý giải này dường như phù hợp với các quan niệm của các nhà hóa học lúc đó.
Lavoisier lặp lại các thí nghiệm của Priesley nhưng áp dụng nguyên tắc bảo toàn khối lượng. Bằng việc chấp nhận về mặt chất lượng quan sát của nhà hóa học người Anh, ông nhấn mạnh tới sự không tương thích về trọng lượng mà người ta thấy rất rõ. Ông xác định phần khí tham gia vào sự cháy là phần khí lành nhất hoặc có thể hít được. Ông đặt tên nó là khí cơ bản vào năm 1775 nhưng ông vẫn thường dùng từ khí ngược nhiên tố như cách gọi thông dụng của các nhà hóa học thời bấy giờ.
Nhưng quan niệm của Lavoisier về sự cháy là như thế nào? Theo ông, một chất khí được tạo lên từ một thành phần cơ bản (mà giờ chúng ta gọi là một nguyên tố hóa học) cùng với một chất liệu tạo cháy (matière de chaleur) mà sau này ông đặt tên là chất dinh dưỡng. Như vậy, trên nền của chất tạo cháy này, vào năm 1777, nhà hóa học đặt tên nó là oxygine, một từ có gốc từ tiếng Hy Lạp nghĩa là “chất tạo axit). Thực tế phải tới năm 1787, ông mới sử dụng chính thức cái tên này. Nguyên lý axit đã giúp Lavoisier tạo ra một lý thuyết về hóa học mới và suốt nửa cuối cuộc đời, ông giành thời gian để chứng minh điều này.
Với việc tiến hành ngày càng nhiều thực nghiệm hơn, Lavoisier buộc phải cần làm việc nhóm để tiến hành các thí nghiệm trên những máy móc ngày càng phức tạp và đòi hỏi thời gian nhiều hơn. Ông hợp tác với Pierre Simon Laplace và nhà quân nhân kiêm kỹ sư Bastiste Meusnier vào đầu những năm 1780.
Lúc này, Lavoisier đã đưa ra giả thiết rằng nước được tạo thành từ hai chất: oxy và hiđro. Sau một thực nghiệm phân tách các thành phần của nước vào năm 1784, công việc còn lại của ông là chứng minh giả thiết của mình cùng bằng thực nghiệm tương tự nhưng có thêm phần tái tạo lại nước từ chính các chất vừa phân tách được ra. Đây là một thực nghiệm lớn được tiến hành năm 1785.

Sản xuất hiđro cho khinh khí cầu
Nhưng tại sao Lavoisier lại có được ý tưởng này? Khí hiđro lúc đầu được đặt tên là khí dễ cháy và do nhà hóa học người Anh Henry Cavendish phát hiện ra vào năm 1766. Do có khối lượng cực nhẹ và dễ cháy, người ta đã từng cho rằng hiđro là một thiên tố thuần túy. Rất có khả năng kể từ năm 1781, Cavendish là người đầu tiên thừa nhận rằng nước là sản phẩm duy nhất của khí dễ cháy có trong khí cơ bản mà Friestley đã khẳng định vào năm 1783. Cả hai nhà bác học này giả định rằng khí dễ cháy được tạo thành từ nước và thiên tố, dù nó có là thiên tố thuần túy hay không. Chính vì vậy, họ cho rằng nước được tạo thành khi người ta kết hợp hai chất khí này lại. Vào mùa hè năm 1783, cả Gaspard Monge và Lavoisier đều nhận thấy chỉ có nước được tạo ra từ hỗn hợp của hai loại khí này.

Trong phòng thí nghiệm, người ta tạo ra được khí hiđro từ việc kết hợp axit sulfuric với sắt hoặc kẽm. Nhưng giá của loại axit này khá đắt trong khi người ta cần tới rất nhiều khí hiđro để sử dụng các khinh khí cầu vừa được ra đời. Anh em nhà Montgolfier đã chế tạo ra một quả khinh khí cầu làm từ giấy và được bơm đầy không khí nóng để bay lên không trung Annonay vào ngày 4/6/1783, trước sự chứng kiến của quan khách Vivarais. Sau đó ít lâu, vào ngày 27/8, nhà vật lý Jacques Charles và anh em nhà Robert đã sản xuất được các khí cụ để có thể đưa khinh khí cầu hiđro bay lên không trung khu vực Champ-de-Mars. Lúc đó người ta rất hoan hỉ vì chế tạo được khinh khí cầu và các quả bóng khí cầu được sử dụng rộng rãi trong trang trí và nhà hát như là một mốt thịnh hành. Trước tình hình này, Viện Hàn lâm khoa học đã thành lập liên tiếp hai ủy ban trong đó có sự tham gia của Lavoisier. Với sự giới thiệu của Lavoisier, Meusnier cũng tham gia các ủy ban này và hai nhà khoa học đã chứng minh được rằng khi phun khí nóng vào sắt thì sẽ tạo ra được rất nhiều khí dễ cháy. Quan sát này đã khiến Lavoisier nghĩ tới việc tiến hành thực nhiệm chi tiết hơn trên nước nhằm mục đích phân tích và tổng hợp nước.
Mục tiêu của thực nghiệm lớn chưa từng thấy này lúc đầu là phân tích thành phần của nước khi tác động với sắt-thực chất là hơi nước nóng tác động với sắt tạo ra oxit sắt và giải phóng khí hiđro. Sau đó, đốt khí hiđro trong oxy để tổng hợp nước trở lại. Khối lượng của các chất tham gia phản ứng và chất tạo thành phải tương đương với nhau trong hai thực nhiệm. Từ thực nghiệm này, Lavoisier khẳng định rằng nước không phải là một sản phẩm đơn chất.

Biên bản sơ sài và người vô danh
Meusnier là người được giao nhiệm vụ viết biên bản chi tiết của hai cuộc thực nghiệm nhưng vì là quân nhân, vào cùng thời điểm đó, ông nhận lệnh dẫn quân đi bảo vệ khu vực công trình cảng Cherbourg. Thời gian quá gấp gáp khiến ông không hoàn thành được biên bản hai cuộc thực nghiệm như Lavoisier mong muốn. Tuy nhiên, một bản báo cáo khác xuất hiện vào ngày 27/2/1786 trong một tạp chí khoa học mới ra đời, tờ báo Journal polytype. Biên bản này, rất có khả năng do Lavoisier viết, mở đầu bằng việc nhận định phương pháp tiến hành thực nghiệm khoa học, sau đó nhắc tới các khám phá của Cavendish, Monge và các nhà khoa học khác. Tác giả của báo cáo cũng miêu tả chi tiết việc phân tách nước, việc tiến hành đốt khí hiđro, các dụng cụ thí nghiệm, các biện pháp an toàn, các nghiên cứu tiến hành trước thực nghiệm và kết quả cũng như bình luận các kết quả này.
Biên bản này chắc hẳn đã được đánh máy rất vội vã do vậy có rất nhiều lỗi in ấn và nó sau này được viết lại rõ ràng hơn vào năm 1892 trong quyển V của bộ sách Các tác phẩm của Lavoisier. Trong lần tái bản này, nhiều thuật ngữ như oxy, hiđro, oxy hóa… đã được sử dụng và chúng hoàn toàn khác lạ so với bản gốc. Tuy nhiên, chúng lại là tất cả những gì mà Lavoisier muốn đưa ra giúp các nhà khoa học thời đó hiểu rõ hơn về các công việc mà ông đã thực hiện.
Chính vì vậy, rất nhiều nhà hóa học lúc đó đã nhanh chóng theo và bảo vệ học thuyết của Lavoisier, thí dụ như Claude Berthollet, Louis Guyton de Morveau, Antoine de Fourcroy..

Nguồn tin: Lược dịch từ Pour la Science No 336-10/2005

Ngày quốc tế bảo vệ tầng ôzôn 16-9-2009 “Toàn cầu tham gia, Bảo vệ tầng ôzôn đoàn kết Thế giới”

Ngày 16/9 tại Hà Nội, Cục Khí tượng Thuỷ văn và Biến đổi khí hậu Bộ Tài Nguyên và Môi trường đã tổ chức buổi gặp mặt các cơ quan thống tấn báo chí nhân dịp Ngày quốc tế bảo vệ tầng ôzôn 16-9-2009 “Toàn cầu tham gia, bảo vệ tầng ôzôn đoàn kết Thế giới”.

Đến dự, phát biểu tại Hội nghị,Thứ trưởng Thường trực Nguyễn Văn Đức  nêu bật ý nghĩa, tầm quan trọng của Ngày quốc tế bảo vệ tầng ôzôn, đồng thời khẳng định cam kết của Bộ Tài nguyên & Môi trường về việc trình Chính phủ xem xét ban hành các biện pháp, chính sách nhằm bảo đảm để nước ta tuân thủ hạn định loại trừ các chất HCFC theo qui định của Nghị định thư Montreal.
Vào ngày này hàng năm, tất cả các quốc gia thành viên Nghị định thư Montreal đều tổ chức các hoạt động kỷ niệm ở cấp quốc gia theo các chủ đề được lựa chọn phù hợp với mục tiêu của Nghị định thư Montreal là loại trừ các chất làm suy giảm tầng ôzôn để bảo vệ tầng khí quyển có chức năng lọc ánh sáng mặt trời, ngăn chặn bức xạ tia cực tím có hại chiếu xuống bề mặt trái đất, nhờ vậy bảo vệ sự sống trên trái đất.
Nghị định thư Montreal quy định loại trừ hoàn toàn chất làm suy giảm tầng ôzôn nhóm CFC từ 1 tháng 1 năm 2010 và từ năm 2010 tất cả các nước thành viên sẽ triển khai loại trừ các chất HCFC và loại trừ hoàn toàn các chất HCFC vào năm 2030 ở các nước đang phát triển.
Việt Nam phê chuẩn Nghị định thư Montreal tháng 1 năm 1994. Khi đó lượng tiêu thụ các chất nhóm CFC là 500 tấn R-11 và R-12, gần 5 tấn halom và 35 tấn CTC. Đến năm 2009, Việt Nam chỉ còn nhập khẩu 10 tấn R-12. Bắt đầu từ 1 tháng 1 năm 2010 toàn bộ các chất nhóm CFC sẽ bị cấm nhập khẩu vào Việt Nam. Như vậy, Việt Nam đã thực hiện đầy đủ cam kết quốc tế trong khuôn khổ Nghị định thư Montreal.
Để đạt được kết quả nêu trên là nhờ có sự chỉ đạo kèm các biện pháp chính sách mạnh của Chính phủ; nỗ lực của Bộ Tài nguyên và Môi trường và của các cơ quan liên quan trong việc tổ chức thực hiện đồng bộ các biện pháp công nghệ và chính sách, trong đó quan trọng nhất là kiểm soát chặt chẽ xuất nhập khẩu các chất làm suy giảm tầng ôzôn và cấm nhập khẩu các thiết bị sử dụng CFC.
Các chất HCFC sử dụng ở Việt Nam chủ yếu là R-22 trong làm lạnh và điều hoà không khí (sản xuất và sửa chữa), có gần 20 doanh nghiệp sản xuất điều hoà không khí; 30 doanh nghiệp sản xuất thiết bị làm lạnh; 600 doanh nghiệp sử dụng thiết bị làm lạnh, nhiều nhất là trong ngành chế biến xuất khẩu thuỷ sản; và R-141b trong sản xuất xốp panel cách nhiệt và tấm lợp cách nhiệt.
Theo ước tính của chuyên gia Ngân hàng Thế giới và trong nước, Việt Nam cần khoảng 20 triệu USD trong vòng 15-20 năm tới để loại trừ hoàn toàn sử dụng các chất HCFC.
Năm 2009, Cục Khí tượng Thuỷ văn và Biến đổi khí hậu cùng với Ngân hàng thế giới thu thập thông tin về lượng và lĩnh vực sử dụng HCFC ở Việt Nam; Năm 2010 phối hợp xây dựng các dự án tìm kiếm tài trợ quốc tế cho các doanh nghiệp; Năm 2011 sẽ bắt đầu triển khai thực hịên các dự án.
P. Tuyên (theo Việt báo)

Tìm ra gene làm thủng tầng Ôzôn

Thứ bảy, 09/10/2004

Các nhà nghiên cứu của ĐH California (San Diego, Mỹ) vừa xác định được một loại gene thực vật kích thích quá trình sản xuất chất methyl halide, hợp chất dạng khí gây nên lỗ thủng tầng ozone. Đây là phát hiện rất quan trọng, bởi vì nó giúp cho giới khoa học xác định được mức độ methyl halide mà thực vật thải ra khí quyển và lý do tại sao một số loại cây ở nơi có độ muối cao lại tăng mức thải methyl halide.

Nhóm khoa học đã tìm ra gene này từ cây Arabidopsis, một loại cây mù tạt thuộc họ cải thường được dùng vào mục đích nghiên cứu. Họ đặt tên cho gene là HOL (Harmless to Ozone Layer – vô hại đối với tầng ozone), bởi vì chỉ cần phá vỡ gene là có thể hạn chế được quá trình sản xuất methyl halide.

Các nhà nghiên cứu còn tìm thấy một số biến thể có liên quan chặt chẽ đến gene HOL trong cơ sở dữ liệu của gene lúa, sợi bông, ngô và lúa mạch. Trước đấy, một số nhà nghiên cứu Mỹ khác đã xác định được các biến thể này trong rau cải và thực vật đầm lầy ngập mặn. Các khám phá trên cho thấy gene HOL là đặc điểm phổ biến của thực vật trái đất. Tuy nhiên, nhóm nghiên cứu nhấn mạnh rằng, sự xuất hiện phong phú của HOL trong thực vật không phải là cơ sở để khẳng định cây cối là thủ phạm huỷ hoại tầng ozone.

Robert C. Rhew, PGS địa lý của ĐH California tại Berkeley, lưu ý: “Lỗ thủng ozone trên tầng bình lưu là do con người tạo ra, vì hầu hết brom và chlor thải lên tầng bình lưu đều là sản phẩm của con người. Methyl halide là hợp chất phức tạp, khó nghiên cứu, bởi vì chúng có nguồn gốc cả tự nhiên lẫn nhân tạo”. Lars Stergaard, Giáo sư sinh học của ĐH California tại San Diego, cho biết: “Cuộc nghiên cứu cho chúng ta biết rằng, tất cả mọi cây cối đều có thể mang gene HOL. Giờ đây, chúng ta đã khẳng định chính xác hơn về tác động của cây cối đối với quá trình sản xuất methyl halide, từ đấy tìm ra phương pháp giảm thiểu khả năng thải khí của gene”.

Những hợp chất nhân tạo góp phần thải chlor và brom vào khí quyển, chẳng hạn như CFC, halogen và methyl bromide, từ lâu đã bị coi là thủ phạm làm thủng tầng ozone. Hiện nay, theo Nghị định thư Montreal 1987, tất cả những chất kể trên đã bị cấm sản xuất nhằm giảm lượng halogen trong khí quyển. Nhưng theo kết quả nghiên cứu gần đây, một số cây trồng cũng thải một lượng nhỏ methyl halide vào khí quyển, chẳng hạn như methyl chloride, methyl iodide và methyl bromide. Trong đó, methyl bromide được dùng để chế tạo thuốc phun trừ sâu. Tuy nhiên, tất cả sẽ bị loại bỏ hoàn toàn theo Nghị định thư Montreal 2005.

Theo một cuộc nghiên cứu trước đấy do Rhew tiến hành, khoảng 10% khí methyl chloride và methyl bromide được thải ra từ các đầm lầy ngập mặn chiếm chưa tới 1/10 diện tích bề mặt trái đất. Lượng muối trong đất và nước càng cao, cây cối càng thải nhiều methyl halide vào khí quyển. Điều này cho thấy, các loại cây trồng mới có khả năng chịu muối sẽ thải nhiều methyl halide, mặc dù chúng cho năng suất cao hơn.

Nhóm khoa học của ĐH California cho biết, gene HOL kiểm soát quá trình sản xuất một loại enzyme gây xúc tác lên việc tạo ra methyl bromide, methyl chloride và methyl iodide ở thực vật. Nếu thêm muối bromide vào đất nơi cây Arabidopsis mọc, lượng methyl bromide mà cây sản xuất ra sẽ tăng cao gấp hàng nghìn lần. Nhưng những cây nào mang bản sao gene HOL đã được biến đổi sẽ chỉ cho 15% methyl chloride, 4% methyl bromide và 1% methyl iodide so với bình thường.

Theo các nhà nghiên cứu, enzyme mà gene HOL tạo ra có thể chuyển hóa các hợp chất đuổi côn trùng, hé mở khả năng sử dụng việc sản xuất methyl halide để đuổi sâu bọ. Nếu thành công, đây sẽ là một cuộc cách mạng thực sự trong ngành hóa sinh. Tuy nhiên, điều này cũng là một thách thức lớn đối với những nhà khoa học muốn giảm lượng khí methyl halide mà lại không làm mất khả năng kháng sâu bọ tự nhiên của cây cối.

(theo mạng Vietnam net)

Kỷ niệm ngày quốc tế bảo vệ tầng ozon

Cập nhật lúc : 2:59 PM, 16/09/2009
(VOV) – Việt Nam tham gia phê chuẩn Nghị định thư Montreal từ tháng 1/1994. Từ đó đến nay, Việt Nam luôn được đánh giá là nước thực hiện đầy đủ cam kết quốc tế trong khuôn khổ Nghị định thư Montreal.

Hôm nay (16/9), tại Hà Nội, Bộ Tài nguyên – Môi trường tổ chức hoạt động kỷ niệm Ngày quốc tế bảo vệ tầng ozon.

Trong Nghị quyết số 49/114 ngày 19/12/1994, Đại Hội đồng Liên Hợp Quốc đã tuyên bố  lấy ngày 16/9 là Ngày quốc tế bảo vệ tầng ozon nhằm kỷ niệm ngày ký Nghị định thư Montreal về các chất làm suy giảm tầng ozon vào năm 1987.

Nghị định thư Montreal quy định loại trừ hoàn toàn chất làm suy giảm tầng ozon nhóm CFC (clorofluorocarbon) từ ngày 1/1/2010 và từ năm 2010, tất cả các nước thành viên sẽ triển khai loại trừ các chất HCFC và loại trừ hoàn toàn các chất HCFC (hydrochlorofluorocarbon) vào năm 2030 ở các nước đang phát triển.

Việc ký kết và thực hiện Nghị định thư đã nhận được sự đồng thuận toàn cầu của các chính phủ, 196/196 quốc gia đã phê chuẩn và thực hiện Nghị định thư (Đông Timor là quốc gia cuối cùng đã phê chuẩn và có hiệu lực từ hôm nay (16/9/2009), sự đồng thuận của các ngành, tập đoàn công nghiệp, của tất cả những người sử dụng trên toàn thế giới.

Tại lễ kỷ niệm, Thứ trưởng Thường trực Bộ Tài nguyên – Môi trường Nguyễn Văn Đức cho biết, Việt Nam tham gia phê chuẩn Nghị định thư Montreal từ tháng 1/1994. Từ đó đến nay, Việt Nam luôn được đánh giá là nước thực hiện đầy đủ cam kết quốc tế trong khuôn khổ Nghị định thư Montreal. Lượng tiêu thụ các chất làm suy giảm tầng ozon (nhóm CFC, HCFC…) ngày càng được hạn chế. Bắt đầu từ ngày 1/1/2010, toàn bộ các chất nhóm CFC sẽ bị cấm nhập khẩu vào Việt Nam. Tuy nhiên, bên cạnh đó, lượng sử dụng các chất HCFC ở Việt Nam hiện vẫn còn cao, vào khoảng 3.000 tấn và dự kiến sẽ còn tiếp tục tăng trong thời gian tới. Các chất HCFC được sử dụng chủ yếu trong làm lạnh và điều hòa không khí, nhiều nhất là trong ngành chế biến xuất khẩu thủy sản, sản xuất xốp panel cách nhiệt và tấm lợp cách nhiệt. Theo tính toán của các chuyên gia trong và ngoài nước, Việt Nam cần khoảng 20 triệu USD để loại bỏ hoàn toàn việc sử dụng các chất HCFC trong vòng 15-20 năm nữa.

Đây được xem là một bài toán lớn đối với ngành Tài nguyên-Môi trường. Tuy nhiên, ông Nguyễn Văn Đức vẫn khẳng định dù khó khăn đến mấy, ngành vẫn quyết tâm làm và làm đến cùng. Hiện, Cục Khí tượng thủy văn và Biến đổi khí hậu cùng với Ngân hàng Thế giới tiến hành thu thập thông tin về lượng và lĩnh vực sử dụng HCFC ở Việt Nam. Dự kiến, năm 2010 phối hợp xây dựng các dự án tìm kiếm tài trợ quốc tế cho các doanh nghiệp, đến năm 2011 sẽ triển khai thực hiện các dự án.

Bộ Tài nguyên-Môi trường sẽ trình Chính phủ xem xét ban hành các biện pháp chính sách nhằm bảo đảm để Việt Nam tuân thủ hạn định loại trừ các chất HCFC theo quy định của Nghị định thư Montreal./.

Thanh Hà

Bí ẩn cá sống không cần thở!Về etanol!!!

Đây có thể là 1 phát hiện thú vị và gây kinh ngạc cho nhiều người: 1 loài cá có thể sống mà không cần phải thở trong 1 khoảng thời gian dài. Các khoa học gia của trường đại học Columbia, Anh (UBC) đã phát hiện ra 1 loài cá chép sống bên dưới các lớp băng tuyết ở Scandinavia có hệ thống hô hấp cực kì đặc biệt. Chúng có thể sống 4 tháng mà không cần khí oxy. Nghiên cứu gia của UBC Jonathan Stecyk đã công bố nghiên cứu của mình về khả năng kì diệu này của loài cá này trên tạp chí Science. Ông phát biểu: “Có thể 1 ngày nào đó chúng ta sẽ có thể đem đến khả năng kì diệu này cho trái tim con người. Hy vọng chúng ta sẽ xem nghiên cứu và khai thác được khả năng của loài cá này”. Stecyk đã đến Norway, rong ruổi trên 1 chiếc thuyền trong 3 tuần để bắt được những con cá chép này cho nghiên cứu của mình. Ông đã trở thành nhà khoa học đầu tiên nghiên cứu khả năng này của động vật có xương sống. Thật ngạc nhiên, ông nhận thấy tim của chúng có thể duy trì hoạt động mà không cần khí oxy. Não của chúng cũng có khả năng tiếp tục gửi tín hiệu điều khiển tim đập mặc dù chúng đã ngưng thở. “Hầu hết các động vật có xương sống đều chết trong vòng 1 phút, hoặc là sự suy giảm các hoạt động tim mạch nếu không có khí oxy” – ông nói. Ông cho rằng loài cá chép này đã duy trì hoạt động tim mạch của mình nhờ giải phóng axit lactic trong cơ thể. Axit lactic – chất này tạo nên cảm giác đốt nóng ở cơ sau khi vận động nhiều – sẽ bị chuyển thành ethanol, 1 loại chất cồn, ít gây độc hơn. Tim chỉ đập 1 cách cân đối để bảo đảm ethanol được vận chuyển đến mang cá và bị loại thải ra môi trường nước. Nếu không quá trình này không được bảo đảm, cá sẽ bị nhiễm độc.

Theo Việt báo

‘Khí cười’- hiểm họa lớn nhất đối với tầng ozone

Bài viết cập nhật lúc: 04:36 ngày 07/09/2009

Một nghiên cứu mới cho biết nitrous oxide (N2O), được nhiều người biết với cái tên “khí cười”, hiện nay là chất phân hủy tầng ozone do con người thải ra và nó có khả năng tồn tại suốt nhiều thế kỉ.

Lỗ thủng tầng Ozone tại Nam Cực. (Ảnh: natural.com)

N2O được tạo ra bằng cách sản xuất phân bón ni tơ hay xử lí nước thải. Các nhà nghiên cứu cho biết nên giảm việc sử dụng loại hợp chất này để tránh làm mỏng tầng ozone bao quanh Trái đất.

Tầng ozone che chở Trái đất khỏi tác hại của tia cực tím mặt trời, loại tia này tăng khả năng ung thư của con người cũng như đe dọa mùa màng và đời sống thủy sinh.

Loại hóa chất Clorua-florua-cacbon (CFCs) do con người tạo ra được nhắc đến rầm rộ vào thập niên 80 khi con người nhận ra chúng đã đục thủng một vùng lớn tầng ozone ở những vùng cực. Năm 1987, hiệp ước quốc tế có tên Nghị định thư Montreal được kí kết, qui định chặt chẽ việc sản xuất CFC và những khí gây hại tầng ozone. Đến năm 1996, những chất này hoàn toàn không còn được sử dụng.

Từ sau đó, tầng ozone của Trái đất của cả hai vùng cực và của bầu khí quyển xung quanh hành tinh dần được phục hồi. Nhưng N2O là loại khí không có trong danh mục Nghị định thư Montreal. Và việc thải N2O có thể đảo ngược thành quả trên, thậm chí có thể khiến tình hình trở nên tồi tệ.

A.R. Ravishankara thuộc Ban quản lí Khí quyển và Hải dương Mỹ, người dẫn đầu cuộc nghiên cứu mới cho biết hiện tại, N2O là khí thải làm phân hủy tầng ozone nghiêm trọng nhất  và tầng ozone liên tục bị tấn công nếu chúng ta không kịp hành động.

Tác nhân gây hiệu ứng nhà kính

Một số loại phân bón được sử dụng tại các nông trại hiện đại làm tăng lượng N2O. (ảnh: NationalGeographic)

Ông cho biết, N2O cũng là khí gây hiệu ứng nhà kính khi liên kết với khí metan hoặc CO2. Vì vậy việc ngăn chặn chúng cũng rất tốt đối với khí hậu.

N2O được tạo thành tự nhiên khi vi khuẩn phân hủy ni tơ trong đất hoặc nước. N2O bốc lên tầng bình lưu, tại đây tia mặt trời phân tích chúng thành những phân tử ni tơ và oxy vô hại.

Tuy nhiên một số N2O vẫn tồn tại và có thể tồn tại hàng trăm năm. Hợp chất này phản ứng với nguyên tử oxy năng lượng cao để tạo thành hợp chất nitric oxide (NO). Chính hợp chất này là tác nhân phá hủy ozone.

Ravishankara chỉ ra rằng mặc dù N2O không làm thủng tầng ozone nhưng nó khiến toàn thể lớp  ozone mỏng hơn

Nguồn N2O phong phú và khó kiểm soát

Mô hình phân tử N2O.

Quy trình hóa học này được biết từ những năm 70 khi các nhà khoa học lo lắng về hiệu ứng môi trường khi máy bay siêu thanh thải khí NO phá hủy tầng ozone. Ravishankara và cộng sự của ông là những người đầu tiên nhấn mạnh về tác hại của NO trong việc làm suy yếu tầng ozone

Để khẳng định điều này, họ đã tạo ra mô hình khí quyển và những phản ứng hóa học xảy ra bên trong nó. Họ nhận thấy rằng khả năng của N2O làm suy yếu tầng ozone có thể so sánh được với những chất làm suy yếu ozone khác được gọi là hydro CFCs, những chất này thay thế CFCs nhưng cũng đang trong quá trình ngưng dần việc sử dụng.

Mặc dù có khả năng làm suy yếu tương đương nhưng N2O có thể có tác động phá hủy nhiều hơn bởi vì nguồn sản sinh chúng quá phong phú. Mỗi năm có khoảng 10 triệu tấn N2O bị thải ra môi trường, tương đương hơn 1 triệu tấn CFC các loại tại điểm thải cao nhất.

Tăng lên nhanh chóng

Biếm họa về hiện tượng nóng lên toàn cầu.

Các nhà khoa học chỉ ra chúng ta đã hoàn toàn lờ đi vai trò của chính mình trong việc tạo ra loại khí nguy hại này. 1/3 tổng lượng N2O thải vào khí quyển là từ những hoạt động của con người như đốt cháy nguyên liệu hóa thạch, sử dụng phân bón gốc ni tơ, vận hành các nhà máy xử lí nước thải hay các quy trình công nghiệp khác liên quan đến ni tơ.

Vì thế, cho dù máy bay siêu thanh không bao giờ cất cánh thì khí thải N2O hiện tại cũng phá hủy tầng ozone tương đương 500 chuyến bay một ngày. Mức thải tăng 0,25% một năm từ trước thời đại công nghiệp.

Don Wuebbes đến từ Đại học linois tại Urbana – Champaign, người phát minh ra phương pháp định lượng hóa chất tiềm tàng phá hủy ozone cho biết, N2O là một loại khí bị lãng quên. Con người luôn nó như một thứ thông thường trong tự nhiên và họ quên rằng nó đang tăng lên.

Biếm họa về hiện tượng nóng lên toàn cầu.

Ravishankara cho biết  khi mức CFC được giảm bớt, N2O thậm chí lại tác động mạnh hơn. Ni tơ và những hợp chất clo trung hòa tác động của nhau đối với tầng ozone – càng nhiều clo thì tác động phá hủy tầng ozone của ni tơ càng giảm và ngược lại. Khi CFC các loại được thanh lọc khỏi bầu khí quyển thì tác động của N2O tăng 50% khả năng so với trước.

Wuebbles cho rằng trong khi chúng ta mong đợi tầng ozone sẽ dần hồi phục nhờ vào những hoạt động cắt giảm CFC thì N2O lại ngăn chặn điều đó xảy ra.

*Chi Giao (Theo Newscientist)

Theo vietnamnet.vn

Khí ozone gây ô nhiễm khi ở mặt đất

Cập nhật lúc 08h39′ ngày 28/07/2007


Ozone (O3) tự nhiên có mặt trên độ cao bảo vệ chúng ta chống lại các tia tử ngoại độc hại, nhưng khi chất khí này ở mặt đất (còn gọi là ozone tầng đối lưu hay ozone xấu) thì nó sẽ trở thành một chất gây ô nhiễm.

Đây là một chất độc đối với các sinh vật sống và là một chất gây hiệu ứng nhà kính khi ở lớp trên của tầng đối lưu.

Sự ô nhiễm ozone ở mặt đất cũng là kết quả một cơ chế tương đối phức tạp, vì chất khí này không phải do con người trực tiếp tạo ra mà được hình thành từ tác động của các tia bức xạ mặt trời và các chất gây ô nhiễm khác như dioxide ni-tơ thải ra từ khói xe và các thành phần hữu cơ bay hơi.

Những thiệt hại do khí ozone gây ra ở lá cây (Ảnh: omafra.gov.on.ca)

Các nhà nghiên cứu khẳng định trên tạp chí Nature rằng, đến năm 2100, hàm lượng ozone sẽ đủ cao để gây tác động rõ rệt đối với sự phát triển của cây trồng, hạn chế khả năng hấp thu dioxide carbone (CO2) của chúng trong khí quyển.

Trên khắp toàn cầu có nhiều khu vực chất thải công nghiệp đã làm tăng cao hàm lượng ozone ở mặt đất. Tuy nhiên, giữa hai chất khí CO2 và O3 có một sự cân bằng phức tạp: dioxide carbone với hàm lượng cao có thể giảm tác động độc hại của khí ozone bằng cách làm đóng các lỗ thở trên lá cây, giảm sự hấp thu của thực vật. Nhưng điều này sẽ khiến cây không còn giữ vai trò bơm khí CO2.

Do đo, khí ozone ở mặt đất còn góp phần làm gia tăng hiện tượng khí hậu nóng dần hơn so với khí ozone ở tầng đối lưu gây hiệu ứng nhà kính.

V.S