Category Archives: Lưu huỳnh-hợp chất

Những chất gây ô nhiễm không khí

Advertisements

Bài giảng H2S, SO2, SO3-GDBVMT

Thực hiện: Châu Pha http://d1.scribdassets.com/ScribdViewer.swf

Liên quan đến lưu huỳnh

  • Khi ống nhiệt kế trong nhà bị vỡ ta cần rắc bột S vào đó do trong ống nhiệt kế có thủy ngân mà thủy ngân lại rất độc, dễ bay hơi mà lại dễ tạo muối với S. Chính vì thế mà người ta rắc bột S khi bị vỡ nhiệt kế

Hg + S –> HgS

  • Khi đốt, pháo sẽ nổ đùng đoàng: pháo chứa lượng lớn thuốc nổ. Thành phần chính của thuốc nổ chủ yếu là lưu huỳnh, than gỗ, diêm tiêu. Khi cháy, than gỗ, lưu huỳnh, diêm tiêu tác dụng với nhau sinh ra năng lượng lớn cùng nhiều chất khí như nito, CO2. Thể tích thuốc nổ tăng hơn 1000 lần => Lớp vỏ quả pháo bị nổ
  • Tranh sơn dầu vẽ tuyết để lâu bị đen: Màu tuyết trắng của tranh sơn dầu là bột phấn chì II oxyt. PbO tác dụng chậm với hidrosunfua trong không khí tạo PbS màu đen.
  • Ở sông ao hồ,một số vi khuẩn phân giải chất hữu cơ bắt nguồn từ xác thực vật và vận chuyển ion H+ và elctron đến chất nhận elctron cuối cùng là gốc sunfàt 8[H] + 2H+ + SO42- —> H2S + H2O

H2S sinh ra tác dụng với Fe có trong lòng đất tạo kết tủa đen

  • Các nhà máy xí nghiệp thải các khí như H2S , SO2 thường xử lí bằng cách đốt hai khí với nhau để tạo ra lưu huỳnh không gây ô nhiễm môi trường.
  • Khi pha loãng acid H2SO4 đặc người ta phải cho từ từ acid vào nước mà không làm ngược lại vì H 2SO4 đặc hút nước rất mạnh và phản ứng tỏa nhiều nhiệt. Làm như vậy acid có thể bị bắn ra ngoài gây nguy hiểm cho người xung quanh.
  • Người ta thường dùng phèn chua có công thức : Al2 (SO4) 4.K2SO4.12H2O để làm trong nước, do khi cho phèn chua vào nước tạo ra Al(OH) 3 kèm theo các chất bẩn lắng xuống.

Diễn đàn H2VN

Phương pháp mới khử hidro từ nước bằng môlipden sunfua (MoS2)

MoS2 sở hữu tính chất tương tự Pt trong vai trò là chất xúc tác qua thí nghiệm khử hidro từ nước.

(Kích thước các hạt MoS2 vào khoảng vài nanomet, xúc tác trong quá trình khử hidro từ nước)

Pt và các kim loại phân bố lân cận trong bảng hệ thống tuần hoàn có thể làm xúc tác cho rất nhiều các phản ứng hóa học khác nhau. Chúng được ứng dụng khá rộng rãi, ví dụ, trong hệ thống làm sạch khí thải. Nhưng giá thành khá cao của các kim loại này khiến các nhà nghiên cứu phải không ngừng tìm ra những chất thay thế với giá thành rẻ hơn.
Bằng việc kiểm tra kích thước và hình thái học 1 lớp phẳng của các hạt MoS2, các nhà nghiên cứu ĐHKT Đanhi đã trưng bày khả năng của MoS2 tách H2 từ nước (2H(+) + 2e(-) = H2). Các nhà nghiên cứu cũng đã khám phá ra rằng, phản ứng khử H2 xảy ra trên bề mặt của MoS2. Khám phá này có giá trị lý thuyết và ứng dụng thực tiễn rất cao. Trước đây, khả năng xúc tác của MoS2 đã được ghi nhận trên nhiều tài liệu, nhưng chưa có thí nghiệm trực tiếp nào chứng minh được quan điểm đó.
Để điều chế MoS2 với kích thước cần thiết giáo sư Ib Chorkendorff đã cho Mo phản ứng với H2S trên bề mặt Au, kết tủa trong thể hơi.
Các nhà nghiên cứu còn cải tiến kỹ thuật điều chế, có khả năng điều chỉnh kích thước và số nguyên tử trên một phân tử nano. Các nhà nghiên cứu cũng chứng minh được rằng, tốc độ giải phóng hidro tỉ lệ tuyến tính với số nguyên tử trên một hạt nano.

Theo http://community.h2vn.com/index.php?topic=2007.msg21822#msg21822

CHÂM NẾN KHÔNG CẦN LỬA


– Hoá chất: KMnO4, H2SO4 đặc
– Dụng cụ: đèn cồn, đũa thuỷ tinh
– Cách làm: Lấy đũa thuỷ tinh nhúng vào axit H2SO4 đặc và chất rắn KMnO, rồi châm vào bấc đèn cồn, nó sẽ tự bùng cháy.
– Giải thích:
H2SO4 + 2KMnO4 –> K2SO4 +2 HMnO4
Dưới tác dụng của H2SO4 đậc, HMnO4 mất nước tạo Mn¬2O7. Mn2O7 có tính oxi hoá cực mạnh, rượu etylic ( cồn) bốc cháy khi tiếp xúc với Mn2O7.

Theo Những điều kỳ thú của hóa học-Nguyễn Xuân Trường

Xử lý thuỷ ngân khi vỡ nhiệt kế

(04/04/2008 15:04:13)

Khi cặp nhiệt độ bị vỡ thủy ngân sẽ trôi ra sàn nhà và không dễ gì hớt lên được. Liệu bạn có biết rằng thủy ngân là một chất độc cực mạnh?
Đúng vậy thủy ngân là chất độc chết người. Nếu chẳng may bé nhà bạn mà nuốt phải “quả bóng nhỏ màu đỏ” ấy thì thật là tai họa. Giả sử trường hợp ấy xảy ra bạn cần giúp bé nôn ra ngay và đưa vào bệnh viện khẩn cấp. Còn trong lúc chờ đợi xe cấp cứu thì hãy uống thật nhiều nước.
Rất may là trường hợp trên cực kỳ hy hữu. Đôi khi chất lỏng rơi ra từ nhiệt kế khiến mọi người tò mò nhiều hơn là đề phòng. Người ta có thể sờ mó “quả bóng” nhỏ xíu tròn trịa lăn và thích thú với việc nó dễ dàng chia ra làm nhiều hạt nhỏ. Thực ra các hạt nhỏ đó có thể tan ra thành khí độc đó làm hại phổi. Chất thủy ngân dễ dàng liên kết với chất béo trong máu và mô khiến nội tạng của con người bị ảnh hưởng, đặc biệt là hệ thần kinh. Chất lỏng này còn có thể xuyên qua cuống nhau để lọt vào tử cung.
Vậy thì nên làm gì với thủy ngân? Tất nhiên là phải dọn sạch rồi, mà phải dọn kỹ, nhanh, và đúng cách.

Chuẩn bị: Ngay sau khi thủy ngân chảy ra từ nhiệt kế, bạn hãy cấp tốc đưa trẻ nhỏ và súc vật ra khỏi vùng bị ảnh hưởng. Và bạn cũng không nên đi lại quanh khu vực đó, để không dây chất lỏng ra khắp nhà. Hãy đóng cửa sổ và cửa ra vào – điều này sẽ khiến thủy ngân khó tan trong không khí. Tuyệt đối không được để gió lùa. Tại nơi thủy ngân rơi ra, cần dùng đèn chiếu sáng từ phía bên lại. Khi mọi hạt nhỏ hiện rõ, ta có thể bắt tay vào thu dọn. Chú ý đeo găng tay và không để cho giọt thủy ngân tiếp xúc với da tay.

Thu dọn: Tuyệt đối không được dùng máy hút bụi để thu dọn thủy ngân! Ta thu gom các hạt thủy ngân bằng chổi lông mềm và dùng giấy mềm hót như xẻng. Hoặc có thể dùng giấy thấm hoặc dụng cụ y tế. Nhưng phải rất khéo tay vừa hót vừa đỡ, nếu không giọt thủy ngân sẽ rơi ra ngoài. Nếu thủy ngân vỡ thành hạt nhỏ, bạn có thể lấy giấy báo, ngâm với nước và vắt khô. Thủy ngân được thu gom bởi cách nào đi nữa thì cũng phải cho vào hộp đậy nắp kín.

Sau từ 1-2 tiếng có thể bắt tay vào lau dọn nền nhà. Trước hết hãy rửa sạch vùng bị bẩn bằng nước xà phòng, sau đó lau sạch. Quần áocần ngâm trong nước lạnh khoảng 30 phút, sau đó ngâm thêm 30 phút nữa trong nước xà phòng ở nhiệt độ 70-80 độ. Nếu có điều kiện nên ngâm tiếp 20 phút trong nhiệt độ cao trong nước pha hóa chất và xả bằng nước lạnh.

Thông gió: Chất thủy ngân khi tiếp xúc với nhiệt độ trong phòng thường lan tỏa và không khí trong toàn bộ khu vực đó bị ô nhiễm. Vì vậy sau khi đã thu dọn, bạn cần thông gió cho căn phòng. Cần mở cửa thoáng trong vòng vài giờ liền.

Sau hàng loạt các công tác đẩy lùi chất độc, bạn cần uống thật nhiều nước vì ta có thể đào thải chất độc thủy ngân qua đường thận. Bạn cũng nên ăn thật nhiều hoa quả tươi.

Chỉ cần vài động tác đơn giản như trên là bạn đã diệt được nguy cơ nhiễm độc thủy ngân. Tuy nhiên nếu bạn vẫn bị nhức đầu, buồn nôn, đau họng và sốt thì bạn đã bị ngộ độc rồi đấy. Trong trường hợp đó hãy nhanh chóng đến cơ sở y tế bởi chỉ có bác sĩ mới giúp được bạn thôi!
Theo Tạp chí Mẹ và bé

Các chất ô nhiễm hình thành trong quá trình cháy

(06-05-2009 09:27:10)

Trong quá trình cháy trong lò hơi, các chất ô nhiễm chủ yếu là NOX, SOX và thủy ngân là các dạng dễ xuất hiện nhất, ngoài ra còn có các hợp chất biến đổi khác ở nồng độ đáng kể. Các dạng chính cũng như phụ đều có ảnh hưởng quyết định tới việc lựa chọn phương pháp khống chế và tính năng của thiết bị khống chế trong quá trình vận hành.

Như chúng ta đã biết, ở nhiệt độ rất cao, N2 và O2 phản ứng với nhau để tạo ra các ôxit nitơ. Cụ thể là sét trong cơn giông tạo ra các ôxít này, chúng thấm xuống đất và trở thành nguồn nitơ nuôi cây cối. Tuy nhiên, NOX tạo ra trong lò hơi nhà máy điện đốt than thường chỉ có 25% là do N2 và O2 phản ứng với nhau trong không khí đốt lò. ¾ còn lại là từ nitơ trong nhiên liệu.

NOX hình thành do sét và đốt than trong các lò hơi ngành điện

Cơ chế thứ hai này chịu ảnh hưởng rất lớn của kiểu lò đốt. Các lò hơi xiclon thường tạo ra nhiều NOX hơn so với các lò chạy bằng than bột. Như vậy chỉ từ quan điểm thiết kế lò hơi, kiểu lò hơi có tác động lớn tới lượng NOX cần loại bỏ.

Nhân tố quan trọng kia là thành phần của các NOX. Nói chung, khoảng chừng 90% sản phẩm ban đầu là NO, phần còn lại chủ yếu là NO2. NO2 có thể hòa tan phần nào đó trong nước (và thậm chí còn dễ hòa tan hơn nếu như được ôxy hoá tiếp thành N2O5), trong khi đó NO lại không. Kết quả là không thể sử dụng tháp lọc ướt để loại trừ NO và buộc phải phát triển các kỹ thuật khác để thu hồi NOX. Một trong số các kỹ thuật được áp dụng sớm nhất là sử dụng gió quá nhiệt (overfire air), theo đó giai đoạn cháy ban đầu được thực hiện với hỗn hợp có phần nghèo không khí để một phần đáng kể các nguyên tử nitơ trong than đá tự phản ứng để tạo thành N2. Giai đoạn cháy cuối cùng được thực hiện bằng việc phun thêm không khí vào bên trên ngọn lửa chính. Trong các phản ứng với nitơ, đây là phản ứng bền nhiệt động nhất, do liên kết ba giữa các nguyên tử nitơ trong phân tử N2 rất bền. Các phát triển mới trong công nghệ gió quá nhiệt tiếp tục cải thiện khả năng giảm NOX. Có thể nói rằng chỉ riêng quá trình này nhiều khi đã có thể giảm nồng độ NOX xuống dưới 0,09 kg/Mbtu.

Để giảm NOX xuống hơn nữa, tốt nhất là sử dụng phương pháp khử không xúc tác có chọn lọc (SNCR) và khử có xúc tác có chọn lọc (SCR), khử SCR có thể giảm nồng độ NOX xuống còn 0,1 pao/MBtu (0,045 kg/MBtu) hoặc thấp hơn. Trong cả hai kỹ thuật này, amoniắc (NH3) và urê (N2H4CO) được phun vào trong dòng khói thải để phản ứng với NOX. Quá trình này được mô tả sơ lược bằng các phương trình sau:


Hợp chất chứa lưu huỳnh thường gặp nhất xuất hiện trong quá trình cháy là SO2. Chính hợp chất này được loại bỏ trong tháp lọc. Tuy nhiên, lượng nhỏ SO3 cũng hình thành trong lò đốt và một tỷ lệ nhỏ SO3 nữa có thể tạo ra do ôxi hóa SO2 tại các tầng xúc tác SCR. Mọi người biết rõ rằng SO3, nếu được đưa thêm ở mức khống chế vào khói thải, sẽ làm giảm điện trở suất của tro bay á bitum (loại tro bay được tạo ra từ than vùng Powder River Basin – PRB). Nhưng SO3 nhiều quá mức lại tạo ra làn khói xanh từ ống khói, và có lẽ quan trọng hơn, SO3 phản ứng với hơi ẩm trong không khí để tạo ra axit sunfuric (H2SO4).

Mặc dù SO3 phản ứng với hơi ẩm trong không khí, nhưng tháp lọc ướt thì lại hầu như không giữ được hợp chất này. Dù vậy, để khắc phục những khó khăn đối với SO3, người ta đã phát triển một số kỹ thuật nhằm ngăn ngừa việc tạo ra hoặc thải SO3 qua ống khói. Cụ thể như phát triển các chất xúc tác SCR giảm thiểu hiện tượng ôxi hóa SO2 thành SO3 và phun chất kiềm vào để trung hòa SO3 trước, sau đó thu hồi trong tháp lọc.

Thủy ngân bị ôxi hóa rất dễ hòa tan và sẽ được thu hồi trong dung dịch tháp lọc ướt, nhưng thủy ngân ở dạng đơn chất thì lại không.

Sự hình thành thủy ngân khi nó thoát ra khỏi than trong và sau quá trình cháy là rất đáng quan tâm và phụ thuộc vào hàm lượng clo trong than. Khi không có clo, thủy ngân có xu hướng xuất hiện ở dạng đơn chất. Clo ôxi hóa thủy ngân chủ yếu thành Hg+2. Điều này ảnh hưởng lớn tới phương pháp thu hồi thủy ngân trong khói thải. Thủy ngân ôxi hóa rất dễ hòa tan, nhưng thủy ngân ở dạng đơn chất thì lại không. Do đó, đối với các công ty điện lực đốt than bitum miền Đông, tháp lọc ướt là giải pháp tiềm năng để loại bỏ phần lớn thủy ngân trong khói thải. Thủy ngân ôxi hóa cũng sẽ được hấp thụ vào các vật liệu có chứa than, than chưa cháy hết có trong khói thải cũng như than hoạt tính được chủ động phun vào. Khi SO2 được chuyển từ pha khí sang pha lỏng (và khi nó phản ứng lần đầu tiên với chất kiềm, có thể là đá vôi hay vôi), sản phẩm anion được tạo ra là muối sunfit (SO3-2). Sunfit dễ dàng bị ôxi hóa bởi không khí trong khói thải hoặc do việc phun không khí cưỡng bức, nhưng nó cũng có thể bị ôxi hóa do thủy ngân, mà thuỷ ngân khi đó trở về dạng đơn chất, không hòa tan được.

Đối với than PRB, chứa ít clo hơn loại than bitum, thủy ngân ở dạng đơn chất thường chiếm đa số. Mặc dù cũng có một lượng nào đó thủy ngân ở dạng đơn chất sẽ bị hấp thụ vào vật liệu chứa cácbon, nhưng quá trình này sẽ hiệu quả nhiều hơn nếu có thể ôxi hóa thủy ngân. Do đó, nhiều thử nghiệm đang tiến hành để ôxi hóa thủy ngân bằng cách phun muối clorua hay brômua vào trong khói thải hoặc là vào than trước khi đốt.

Một nhân tố tác động không tốt tới việc hấp thụ thủy ngân bằng vật liệu chứa cácbon là việc phun SO3 để làm tăng hiệu suất lọc tĩnh điện (EPS). Đốt than PRB tạo ra tro có điện trở suất cao, làm giảm một lượng nhỏ SO3. Tuy nhiên, SO3 cũng bị cácbon hấp thụ, do đó giảm hiệu quả giữ thủy ngân. Đây là một khó khăn vẫn đang được nghiên cứu.

Một dạng khác

Vấn đề cuối cùng đã được biết rõ từ nhiều năm nay nhưng vẫn là mối quan ngại của các công ty điện lực đốt một số loại than, đó là natri. Nhiều chất vô cơ trong than có cấu trúc silic phức tạp trong đó các kim loại khác nhau (như natri, nhôm, kali và các kim loại khác) liên kết với nhau. Nhưng natri cũng có thể tồn tại ở dạng muối, ví dụ như clorua. Khi đốt than, lượng natri “tự do” này bay hơi, nhưng sau đó bắt đầu ngưng tụ lại trong dải nhiệt độ xấp xỉ từ 1.300 F (700oC) tới 1.500 F (815oC). Tất nhiên khoảng nhiệt độ này tồn tại ở trong khoang phía sau lò hơi. Ở đó, natri ngưng tụ và giống như một loại keo, nó gom tro bay lại, tạo thành lớp bám tụ trên các ống quá nhiệt và ống gia nhiệt lại.

Một vấn đề có thể nảy sinh ở các công ty điện lực mà cán bộ quản lý nhiên liệu có quyền mua nhiều loại than ở thị trường tự do dựa vào giá thấp nhất. Mặc dù có thể nhiên liệu đều đến từ cùng một địa phương, nhưng chất lượng than giữa các mỏ – thậm chí nhiều khi trong cùng một vỉa than – có thể rất khác nhau, đặc biệt khi xét đến các tạp chất có trong than. Trong một số trường hợp, có thể dẫn đến hiện tượng tắc lò nhanh chóng và nghiêm trọng ở khoang phía sau lò hơi, với những hậu quả nghiêm trọng. Khi đó, ít nhất cũng có một số trường hợp mà chắc chắn nguyên nhân chính là do hàm lượng tăng cao chất bốc natri có trong than đá.

HIENDAIHOA.COM Theo KHCN Điện