Category Archives: Hidro peoxit

Hidropeoxit

  • Trong y tế thường dùng nước oxi già để rửa vết thương do nó có tính oxi hóa mạnh.
  • Đồ dùng bằng bạc bị đen do oxi trong không khí oxi hóa. Để làm trắng sáng lại hiện tượng bạc đen trên ta cho đồ dùng này vào H2O2

H2O2 + Ag2O –> Ag + H2O + O2

  • Để làm bức tranh sơn  cổ (đen) trở lại bình thường người ta dùng H2O2 để làm trắng lại

PbS + H2O2 –> PbSO4 + H2O

Diễn đàn H2VN

Advertisements

H2O2

Đố vui

Không trẻ sao lại có già
thường dùng rữa thoa da xướt trầy
tập làm y tá ra tay
đố ai biết được đúng ngay thứ gì?

Trong số các peoxit thì hiđro peoxit H2O2 có giá trị thực tế nhất. Cấu tạo phân tử H2O2 được mô tả như sau:

Năng lượng liên kết O-O (210 kJ/mol)

H-O (468 kJ/mol)

Do sự phân bố không đối xứng các liên kết H – O, nên phân tử H2O2 có cực tính lớn (m = 2.1D) giữa các phân tử H2O2 xuất hiện liên kết hiđro khá bền, làm cho chúng liên hợp được với nhau.

Ở điều kiện thường, hiđro peoxit tinh khiết là một chất lỏng không màu, có vị kim loại, sánh như đường (khối lượng riêng là 1.44), sôi ở 152,1oC, và hoá rắn ở – 0.89oC. Nó trộn lẫn với H2O theo bất kỳ tỉ lệ nào nhờ có sự xuất hiện liên kết hiđro. Từ các dung dịch, nó tách ra dưới dạng hiđrat không bền H2O2.2H2O (nhiệt độ nóng chảy -52oC).Trong phòng thí nghiệm thường sử dụng các dung dịch H2O2 3% và 30% (dung dịch 30% gọi là pehyđrol).

Hiđro peoxit rất tinh khiết tương đối bền, nhưng khi có lẫn tạp chất như các kim loại nặng và ion của chúng hoặc khi đun nóng hoặc chiếu sáng, H2O2 phân huỷ và có thể gây tiếng nổ:

2H2O2 2H2O + O2 DH0 = -98.74 kJ/mol

Bởi vậy H2O2 và dung dịch của nó thường được bảo quản ở chỗ râm mát và tối. Để làm bền người ta cho thêm những chất ức chế như H3PO4 hay H2SO4. Ngược lại dung dịch kiềm làm nhanh quá trình phân huỷ H2O2. Dung dịch loãng của H2O2 có tính axit mạnh hơn H2O :

H2O2 + H2O H3O+ + HO2 pK = 11.6

Khi tương tác với dung dịch kiềm mạnh nó cho peoxit và ngược lại, khi cho peoxit tác dụng với dung dịch axit H2O2 được giải phóng.

Ví dụ : H2O2 + Ba(OH)2 BaO2 + 2H2O

BaO2 + H2SO4 H2O2 + BaSO4

Oxi ở trong H2O2 có số oxi hoá -1, làm cho H2O2 vừa có khả năng oxi hoá, vừa có khả năng khử. Qua thế điện cực của H2O2 trong dung dịch ta nhận thấy H2O2 vừa có khả năng oxi hoá mạnh trong cả 2 môi trường axit và kiềm.

H2O2 + 2H+ +2e 2H2O E0 = +1.77V

H2O2 + 2e 2OH E0 = +0.87

Mặc dù thế oxi hoá của H2O2 trong môi trường axit cao hơn nhưng tốc độ phản ứng xảy ra trong môi trường kiềm lại nhanh hơn, đó là bởi vì H2O2 kém bền trong môi trường kiềm.

Qua thế oxi hoá khử của H2O2 ở trên ta thấy H2O2 có thể oxi hoá :

I thành I2 (= 0.536V)

Sunfua thành sunfat (= 0.303V)

Asenơ thành Asenic (= 0.560V)

Ví dụ : H2O2 + H2SO4 + 2KI I2 + 2H2O + K2SO4

PbS + 4H2O2 PbSO4 + 4H2O

Vậy O3 và H2O2 chất nào có tính oxi hoá mạnh hơn? Dựa vào thế oxi hoá khử của O3 ta nhận thấy rằng O3 có tính oxi hoá mạnh hơn H2O2 cả trong môi trường axit lẫn trong môi trường bazơ.

O3 + 2H+ + 2e O2 + H2O E0 = + 2.07V

O3 + H2O + 2e O2 + 2OH E0 = + 1.24V

Do vậy mà O3 có thể oxi hoá trực tiếp H2O2

H2O2 + O3 H2O + 2O2

Thế của phản ứng:

O2 +2H+ + 2e H2O2 E0 = + 0.68V

Như vậy H2O2 thể hiện tính khử khi tác dụng với những chất oxi hoá mạnh như O3, KMnO4, Cl2… Nghiên cứu phản ứng oxi hoá H2O2 trong dung dịch nước bởi MnO4, Cl2,… và phản ứng phân huỷ dưới tác dụng của các xúc tác như Fe3+, MnO2 người ta thấy rõ rằng O2 được giải phóng là hoàn toàn của phân tử H2O2 chứ không phải của phân tử H2O. Điều đó chứng tỏ rằng liên kết O – O trong H2O2 không bị đứt ra mà là anion [O-O]2- mất electron.

Những ứng dụng của H2O2 đều dựa vào tính không bền và sát trùng của nó. Dung dịch H2O2 3% dùng để rửa vết thương. Phần lớn H2O2 dùng để tẩy trắng lông, len, dạ, rơm rạ, tre…Ưu điểm của nó là khi dùng dung dịch không có nồng độ cao nên không làm hỏng vật liệu. Dung dịch H2O2 đậm đặc (trên 80%) được dùng để làm chất oxi hoá dùng trong nhiều phản ứng. Dựa vào phản ứng phân huỷ của nó, người ta dùng H2O2 để làm chất tạo bọt trong ngành sản xuất các vật liệu xốp.

Trong thiên nhiên H2O2 được tạo nên dưới dạng một sản phẩm quý của quá trình oxi hoá nhiều chất bởi oxi của không khí. Trong nước mưa và trong dung dịch của một số cây cũng có những vết H2O2.

Trong công nghiệp, điều chế H2O2 bằng phương pháp điện phân và phương pháp antraquinon.

Trong phương pháp thứ nhất, người ta điện phân ở nhiệt độ khoảng 5-10o dung dịch H2SO4 50% hoặc dung dịch (NH4)2SO4 trong H2SO4 với mặt của dòng điện lớn (~ 1A/dm2) và điện cực platin. Tuy cơ chế chi tiết của quá trình điện phân chưa được biết rõ hoàn toàn, cơ chế chung có thể được viết như sau:

2HSO4 – 2e S2O82- +2H+

2SO42- -2e S2O82-

Axit peoxitdi sunfuric (H2S28) được tạo nên khi điện phân sẽ kết hợp với nước tạo nên H2O2 :

H2S2O8 + 2H2O 2H2SO4 + H2O2

Chưng cất hỗn hợp sản phẩm ở áp suất thấp sẽ được dung dịch H2O2 loãng. Có dung dịch loãng ở trong chân không rồi chưng cất phân đoạn nhiều lần được dung dịch H2O2 90 – 99%.

Trong phương pháp antraquinon người ta dùng O2 oxi hoá antraquinon đã được H2O2 và tái sinh lại antraquinon bằng cách dùng H2 khử, với chất xúc tác là Pd :

Phản ứng được thực hiện ở trong pha lỏng. Dung dịch H2O2 thu được có nồng độ 20-25%. Nguyên liệu chủ yếu được dùng trong quá trình điều chế này là hyđro, oxi, không khí và nước. Bởi vậy giá thành của H2O2 hạ hơn so với phương pháp điện phân. Trong phòng thí nghiệm, H2O2 có thể điều chế bằng cách cho BaO2 tác dụng với axit sunfuric.

Nước ôxy già (H2O2)

Nguồn : Bách khoa toàn thư mở Wikipedia

Nước ôxy già (H2O2) là một chất lỏng trong suốt, nhớt hơn một chút so với nước, có các thuộc tính ôxi hóa mạnh và vì thế là chất tẩy trắng mạnh được sử dụng như là chất tẩy uế, cũng như làm chất ôxi hóa, và (đặc biệt ở nồng độ cao như HTP) làm tác nhân đẩy trong các tên lửa.

  • Sử dụng

Trong gia đình

Khi ở nồng độ rất thấp (dưới 5%) nó được sử dụng phổ biến để tẩy tóc người. Với nồng độ cao hơn nó có thể làm cháy da khi tiếp xúc. Ở nồng độ thấp (3%), nó được sử dụng trong y học để rửa vết thương và loại bỏ các mô chết. Cục quản lý thực phẩm và dược phẩm (Mỹ) đã cho phép sử dụng nước ôxy già 3% (“Cấp thực phẩm”, hay không có sự bổ sung các hóa chất ổn định) như là nước rửa miệng. Các dung dịch perôxít thương mại (chủ yếu là H2O2 mua từ các hiệu thuốc) là không thích hợp cho việc uống nó do chúng chứa các hóa chất bổ sung có tính độc hại.

Một số người làm vườn và những người trồng cây thủy sinh đã nói đến giá trị của hiđrô perôxít trong các dung dịch nước của họ. Họ cho rằng sự phân hủy tự nhiên của nó giải phóng ôxy cho cây trồng mà nó có thể làm tăng sự phát triển của rễ cũng như giúp xử lý các rễ đã thối rữa, là các tế bào chết do thiếu ôxy.

Perôxít thương mại, như các dung dịch 3% mua tại hiệu thuốc, có thể sử dụng để tẩy các vết máu khỏi quần áo và thảm.
Lưu trữ
Một lọ nước ôxy già trong tủ thuốc gia đình.

Do hiđrô perôxít phân hủy khi có ánh sáng nên nó cần phải bảo quản trong điều kiện mát và tránh chiếu nắng trực tiếp. Nó cũng cần được bảo quản trong chai lọ có dãn nhãn rõ ràng, xa tầm với của trẻ em do nếu uống nhầm một lượng lớn thì nó có thể sinh ra các vấn đề với hệ tiêu hóa như bỏng, tổn thương và nôn mửa.

Các dung dịch đậm đặc hơn, chẳng hạn 35% sẽ gây ra chết người khi uống mà không pha loãng.
Ứng dụng công nghiệp

Khoảng 50% sản lượng hiđrô perôxít của thế giới năm 1994 được sử dụng để tẩy trắng giấy và bột giấy. Các ứng dụng tẩy trắng khác ngày càng trở nên quan trọng hơn do hiđrô perôxít được coi là chất thay thế tốt hơn về mặt môi trường so với các chất tẩy gốc clo.

Các ứng dụng chủ yếu khác trong công nghiệp của nó còn bao gồm cả việc sản xuất natri percacbonat và natri perborat, được sử dụng như là các chất tẩy rửa nhẹ trong các loại bột giặt để giặt là (ủi). Nó còn được sử dụng trong sản xuất các hợp chất perôxít hữu cơ nào đó như dibenzoyl perôxít, được sử dụng như là chất mồi gốc tự do trong các phản ứng trùng hợp và các phản ứng hóa học khác. Nó cũng được sử dụng để sản xuất các êpôxit chẳng hạn như prôpylen ôxít. Phản ứng với các axít cacboxylic tạo ra các “a xít per-” tương ứng; ví dụ axít peraxêtic sử dụng công nghiệp được điều chế theo cách này từ axít axêtic. Tương tự, axít mêta-clorôperôxybenzôic (MCPBA), được sử dụng nhiều trong các phòng thí nghiệm, cũng được điều chế từ axít meta-clorôbenzôic.
Tác nhân đẩy

Sử dụng H2O2 như là tác nhân đẩy có một số ưu thế như sự phân hủy của nó tạo ra nước và ôxy. Nhiên liệu được bơm vào trong khoang phản ứng, ở đó thông thường các chất xúc tác kim loại (đặc biệt là bạc hay bạch kim) kích thích sự phân hủy, luồng hơi nước-ôxy được tạo ra hoặc là được sử dụng trực tiếp hoặc được trộn với nhiên liệu để đốt cháy. Khi là tác nhân đẩy đơn (không trộn với nhiên liệu) nó sinh ra xung lực riêng tối đa là (Isp) 161 s (1,6 kN•s/kg) làm cho nó là tác nhân đẩy hiệu suất thấp. Tên lửa đai lưng nổi tiếng của Bell sử dụng hiđrô perôxít làm tác nhân đẩy đơn. Khi phân hủy như là chất ôxi hóa để đốt nhiên liệu thì xung lực riêng của nó cao hơn, có thể đạt tới 350 s (3,5 kN•s/kg), phụ thuộc vào loại nhiên liệu. Perôxít đã được sử dụng rất thành công như là chất ôxi hóa cho tên lửa đẩy giá thành thấp của Anh, tên lửa Black Knight (Hiệp sĩ đen) cho các lần phóng vệ tinh của dự án Black Arrow (Mũi tên đen).

So sánh với hiđrazin, perôxít ít độc hại hơn nhưng nó cũng không mạnh bằng. Perôxít cung cấp Isp thấp hơn một chút so với ôxy lỏng, nhưng là một chất dễ bảo quản, không cần làm lạnh và đậm đặc hơn và nó có thể sử dụng để chạy các tuốc bin khí nhằm tạo ra áp suất cao. Nó cũng có thể sử dụng để làm mát tái sinh các động cơ tên lửa.

Trong những năm thập niên 1940- 1950, tuốc bin của Walter sử dụng hiđrô perôxít để chạy các tàu ngầm khi chúng lặn; chúng là quá ồn và có yêu cầu bảo dưỡng cao hơn khi so với với hệ thống cung cấp năng lượng kiểu điêzen-điện chuyển đổi. Một số ngư lôi sử dụng hiđrô perôxít như là chất ôxi hóa hay tác nhân đẩy, nhưng việc sử dụng này đã bị hải quân nhiều nước dừng lại vì các lý do an toàn. Sự rò rỉ hiđrô perôxít đã bị coi là nguyên nhân gây ra chìm các tàu HMS Sidon 2 và Kursk. Ví dụ, hải quân Nhật Bản phát hiện ra trong các lần thử nghiệm ngư lôi là nồng độ cao của H2O2 trong các chỗ uốn vuông góc của các ống dẫn HTP có thể dẫn tới các vụ nổ của các tàu ngầm hay ngư lôi.

Trong khi ứng dụng của nó như là tác nhân đẩy đơn cho các động cơ lớn đã bị suy giảm thì các thiết bị đẩy nhỏ (để kiểm soát tư thế) sử dụng hiđrô perôxít vẫn còn được sử dụng trong một số vệ tinh và đem lại ích lợi cho tàu vũ trụ, làm cho nó dễ dàng hơn trong việc điều chỉnh và an toàn hơn trong khi nạp và chứa nhiên liệu trước khi hạ cánh (khi so sánh với tác nhân đẩy đơn hidrazin). Tuy nhiên hiđrazin là tác nhân đẩy đơn phổ biến hơn trong các tàu vũ trụ vì nó có xung lực riêng cao hơn và tỷ lệ phân hủy thấp hơn.
Sử dụng trong y tế

Nước ôxy già được sử dụng như là chất khử trùng và chất khử khuẩn trong nhiều năm. Trong khi việc sử dụng nó đã bị suy giảm trong những năm gần đây do sự phổ biến của các sản phẩm OTC có mùi vị dễ chịu hơn và có sẵn hơn thì nó vẫn được nhiều bệnh viện, bác sĩ và nha sĩ sử dụng trong việc vô trùng, làm sạch và xử lý mọi thứ từ sàn nhà đến các phẫu thuật chân răng.

Hiđrô perôxít 35% cấp thực phẩm được gọi là “nước ôxy già”, với các giá trị y học hay trị liệu được coi như là liệu pháp hiđrô perôxít. Những người chủ trương sử dụng sản phẩm này cho rằng nó có thể hòa loãng và sử dụng trong “liệu pháp siêu ôxi hóa” để điều trị AIDS, ung thư và nhiều bệnh khác; một số cũng kêu ca rằng thông tin về các sử dụng có lợi của perôxít bị cấm bởi cộng đồng khoa học.

Gần đây, các nhà thực hành y học khác cũng sử dụng các liều hiđrô perôxít tiêm tĩnh mạch trong nồng độ cực thấp (nhỏ hơn 1%) trong liệu pháp hiđrô perôxít – một hướng điều trị y học gây tranh cãi đối với ung thư. Tuy nhiên, theo Hiệp hội ung thư Mỹ, “đã không có các chứng cứ khoa học cho thấy hiđrô perôxít là an toàn, có hiệu quả hay có ích trong điều trị ung thư”. Họ cũng khuyến cáo các bệnh nhân ung thư cần “duy trì việc chăm sóc của các bác sĩ chuyên khoa, là những người sử dụng các phương pháp điều trị đã được thử thách và các thử nghiệm điều trị đã được phê chuẩn của các điều trị mới có triển vọng”.

  • Các thuộc tính vật lý

Cấu trúc của hiđrô perôxít

Hiđrô perôxít có hình dạng “xiên lệch”, do lực đẩy giữa các cặp đơn trên các nguyên tử ôxy. Mặc dù trên thực tế liên kết O-O là một liên kết đơn, phân tử có rào cản cao đáng kể để thực hiện vòng quay hoàn hảo là 29,45 kJ/mol; nó có nguyên nhân là do lực đẩy của cặp đơn. Các góc liên kết bị ảnh hưởng chủ yếu bởi liên kết hiđrô, nó giải thích sự khác biệt giữa các dạng hơi và tinh thể; thực vậy người ta đã quan sát được một khoảng rộng giá trị trong các tinh thể chứa phân tử H2O2.

  • Các thuộc tính hóa học

Hiđrô perôxít có thể phân hủy tự nhiên thành nước và ôxy. Thông thường nó phản ứng như là một chất ôxi hóa, nhưng có nhiều phản ứng trong đó nó phản ứng như là chất khử, giải phóng ra ôxy như là phụ phẩm. Nó cũng rất nhanh chóng tạo ra các perôxít vô cơ và hữu cơ.
Phân hủy

Hiđrô perôxít thông thường phân hủy theo phản ứng tỏa nhiệt thành nước và khí ôxy một cách tự nhiên:

2 H2O2 → 2 H2O + O2 + Nhiệt lượng

Phản ứng này là thuận; nó có ΔH° -98,2 kJ/mol và ΔG° -119,2 kJ/mol. Tỷ lệ phân hủy phụ thuộc vào nhiệt độ, nồng độ của perôxít, cũng như là độ pH và sự có mặt của các chất ổn định hay tạp chất. Hiđrô perôxít kỵ với nhiều chất gây ra sự xúc tác quá trình phân hủy nó, bao gồm phần lớn các kim loại chuyển tiếp và hợp chất của chúng. Các chất xúc tác phổ biến nhất là mangan điôxít, kali pemanganat và bạc. Phản ứng y như vậy cũng được xúc tác bằng enzym catalase, tìm thấy trong gan, mà chức năng chính của nó trong cơ thể là thải loại các sản phẩm phụ độc hại trong quá trình trao đổi chất và khử oxidative stress. Sự phân hủy diễn ra nhanh hơn trong chất kiềm, vì thế axít thường được thêm vào như là chất ổn định.

Việc đổ hiđrô perôxít nồng độ cao vào các chất dễ cháy có thể sinh ra sự cháy tức thì do ôxy được giải phóng từ sự phân hủy hiđrô perôxít. Hiđrô perôxít nồng độ cao (viết tắt tiếng Anh: HTP high-test peroxide) cần phải lưu trữ trong các thùng chứa thông thoáng khí để ngăn ngừa việc tích lũy khí ôxy mà nếu không thì cuối cùng sẽ dẫn tới sự phá hỏng thùng chứa. Thùng chứa phải được làm từ các vật liệu tương thích như PTFE, polyetylen hay nhôm (không sử dụng thép không gỉ tức inốc) và phải trải qua quá trình làm sạch (thụ động hóa) để loại bỏ tất cả các chất ô nhiễm trước khi đưa perôxít vào. (Lưu ý rằng polyetylen là tương thích ở nhiệt độ phòng nhưng có thể nổ cùng với perôxít khi bị cháy.)

Khi có mặt một chất xúc tác nào đó, như Fe2+ hay Ti3+, sự phân hủy có thể diễn ra theo cách khác, với các gốc tự do như HO· (hydroxyl) và HOO· được tạo ra. Tổ hợp của H2O2 và Fe2+ được biết đến như là thuốc thử Fenton.
Phản ứng ôxi hóa-khử

Trong dung dịch nước, hiđrô perôxít có thể ôxi hóa hay khử nhiều loại ion vô cơ. Khi nó như là một chất khử thì khí ôxy được tạo ra. Trong dung dịch axít ion sắt Fe2+ bị ôxi hóa thành ion sắt Fe3+,

2 Fe2+(Dung dịch) + H2O2 + 2 H+(dung dịch) → 2 Fe3+(dung dịch) + H2O(lỏng)

và sulfit (SO32−) bị ôxi hóa thành sulfat (SO42−). Tuy nhiên kali pemanganat bị khử thành mangan Mn2+ bởi tính axít của H2O2. Thú vị là dưới các điều kiện môi trườnglà kiềm thì một số trong các phản ứng này là ngược lại; Mn2+ bị ôxi hóa thành Mn4+ (trong dạng MnO2), và Fe3+ bị khử thành Fe2+.

2 Fe3+ + H2O2 + 2 OH− → 2 Fe2+ + 2 H2O + O2

Hiđrô perôxít thường xuyên được sử dụng làm chất khử trong hóa hữu cơ. Một ứng dụng là để ôxi hóa các thioête thành các sulfôxít. Ví dụ mêtyl phênyl sulfit bị ôxi hóa thành mêtyl phênyl sulfôxít trong 99% yield trong metanol trong thời gian 18 giờ (hay 20 phút với xúc tác TiCl3):

Ph-S-CH3 + H2O2 → Ph-S(O)-CH3 + H2O

Hiđrô perôxít kiềm hóa được sử dụng để êpôxit hóa các alken thiếu hụt điện tử như axít acrylic, cũng như để ôxi hóa các alkylboran thành rượu, bước thứ hai của quá trình hiđrôborua hóa-ôxi hóa.
Tạo thành các hợp chất perôxít

Hiđrô perôxít là một axít yếu (pH = 4,5), và nó có thể tạo ra các muối hiđrôperôxít hay perôxít hay các dẫn xuất của nhiều kim loại. Ví dụ, với dung dịch axít crômic (CrO3) nó có thể tạo ra perôxít màu xanh lam không ổn định CrO(O2)2. Nó cũng có thể tạo ra các peroxoanion theo phản ứng với các anion; ví dụ phản ứng với borac tạo ra natri perborat, là một chất tẩy sử dụng trong các bột giặt:

Na2B4O7 + 4 H2O2 + 2 NaOH → 2 Na2B2O4(OH)4 + H2O

H2O2 chuyển hóa các axít cacboxylic (RCOOH) thành các axít peroxy (RCOOOH), mà tự chúng lại được sử dụng như là các chất ôxi hóa. Hiđrô perôxít phản ứng với axêtôn để tạo ra axêtôn perôxít và nó tương tác với ôzôn để tạo ra hiđrô triôxít. Phản ứng với urê tạo ra cacbamua perôxít, được sử dụng để làm trắng răng. Cân bằng axít-bazơ với triphenylphosphin ôxít là “người vận chuyển” hữu ích của H2O2 trong một số phản ứng.
Tính bazơ

Hiđrô perôxít là một bazơ yếu hơn cả nước, nhưng nó có thể tạo ra một số sản phẩm với các axít rất mạnh. Siêu axít HF/SbF5 tạo ra các hợp chất không ổn định chứa ion (H3O2)+.

  • Sản xuất

Ngày nay hiđrô perôxít được sản xuất gần như duy nhất chỉ bằng sự tự ôxi hóa của 2-etyl-9,10-đihiđrôxyanthracen thành 2-etylanthraquinon và hiđrô perôxít sử dụng ôxy từ không khí. Dẫn xuất anthraquinon sau đó được chiết ra khỏi hỗn hợp và được khử ngược trở lại thành hợp chất đihiđrôxy bằng khí hiđrô với chất xúc tác kim loại. Phương trình tổng quan của quá trình này được đơn giản hóa như sau (dễ nhầm lẫn):

H2 + O2 → H2O2

Tuy nhiên tính kinh tế của công nghệ này phụ thuộc vào tính hiệu quả của quá trình tái chế quinon cũng như quá trình chiết dung dịch và của chất xúc tác cho quá trình hiđrô hóa.

Trước đây các công nghệ vô cơ đã được sử dụng, bằng cách điện phân dung dịch axít sulfuric hay amoni bisulfat axít (NH4HSO4), tiếp theo là sự thủy phân của perôxyđisulfat ((SO4)2)2− được tạo ra sau khi điện phân.

Năm 1994, sản lượng toàn thế giới của H2O2 là khoảng 1,9 triệu tấn, phần lớn trong chúng có nồng độ 70% hoặc thấp hơn. Trong năm này giá bán buôn H2O2 30% là khoảng US$0,54 một kg, tương đương với US$1,50/kg (US$0,68/ lb) trên “cơ sở 100%”.

  • Nồng độ

Hiđrô perôxít làm việc tốt nhất như là tác nhân đẩy khi ở nồng độ cực cao. Tuy nhiên, có rất ít nhà cung cấp hiđrô perôxít có độ tinh khiết cao, và họ cũng không thể bán với lượng lớn cho bất kỳ ai. Kết quả là những người nghiệp dư mông muốn sử dụng nó như là nhiên liệu cho tên lửa thông thường phải mua nó với nồng độ 70% hoặc thấp hơn (phần lớn trong số 30% còn lại là nước, và đôi khi còn có dấu vết của các chất ổn định, như thiếc), và sau đó tự làm tăng nồng độ của nó lên. Nhiều người thử chưng cất, nhưng điều này là cực kỳ nguy hiểm do hơi perôxít có thể kích nổ ở nhiệt độ khoảng 70 °C. Hướng tiếp cận an toàn hơn là thổi khí (trơ về mặt hóa học với các chất có trong dung dịch) qua dung dịch, tiếp theo là đóng băng phân đoạn, nhưng thậm chí khi sử dụng phương pháp này thì các tạp chất thường vẫn có thể gây nổ.

Trong những năm thập niên 1950 HTP đã từng có sẵn hơn, nhưng do sự e ngại về an toàn nên các nhà sản xuất hàng loạt kể từ đó đã chuyển sang sản xuất H2O2 có nồng độ thấp khi có thể. Một số nhóm nghiệp dư đã biểu thị sự quan tâm của họ trong việc tự sản xuất perôxít để sử dụng cho chính họ và bán lại với một lượng nhỏ cho những người khác.

  • Các nguy hiểm

Hơi hiđrô perôxít có thể kích nổ trên 70 °C, vì thế việc bảo quản dung dịch và hơi ở điều kiện mát là then chốt. Việc chưng cất hiđrô perôxít ở áp suất thường cũng rất nguy hiểm. Hơi hiđrô perôxít có thể tạo ra các chất nhạy nổ do tiếp xúc với các hiđrôcacbon như dầu mỡ. Các phản ứng nguy hiểm dao động từ bắt cháy tới nổ đã được thông báo là xuất hiện cùng với rượu, các kêtôn, axít cacboxylic (cụ thể là axít axêtic), các amin và phốtpho.

Hiđrô perôxít, nếu đổ vào vải (hay các chất dễ cháy khác) sẽ làm bay hơi nước cho đến khi nồng độ đạt đến mức đủ lớn thì vật liệu sẽ tự động bắt cháy. Sản phẩm da nói chung chứa sắt kim loại từ quá trình thuộc da và thông thường bắt lửa rất nhanh.

Hiđrô perôxít đặc (>50%) là một chất ăn mòn, và thậm chí các dung dịch mạnh để sử dụng trong gia đình cũng có thể kích thích mắt, các màng nhầy và da. Việc uống dung dịch hiđrô perôxít là nguy hiểm, do sự phân hủy trong dạ dày giải phóng ra một lượng khí lớn (10 lần thể tích của dung dịch 3%) dẫn tới sự chảy máu trong.

IARC liệt kê hiđrô perôxít trong Nhóm 3: không được phân loại như là có tính gây ung thư đối với con người. Nghiên cứu trên chuột phát hiện ra sự tăng nguy cơ ung thư hệ tiêu hóa sau việc hấp thụ hiđrô perôxít, nhưng các nghiên cứu khác trên động vật đã chứng tỏ nó không thuyết phục. Hiđrô perôxít được sản xuất như là phụ phẩm trong việc trao đổi ôxy trong cơ thể, và gần như mọi cơ thể đều có enzym có tên gọi là peroxidase để xúc tác sự phân hủy nó thành nước và ôxy (xem Phân hủy trên đây).

Sự rò rỉ của HTP (85-98% hiđrô perôxít) từ các ngư lôi là nguyên nhân làm nổ tàu ngầm Kursk của Nga năm 2000.

Liên kết ngoài

Chế tạo dãy cảm ứng dò ra phân tử đơn đầu tiên

Các kỹ sư hóa của Viện Công nghệ Massachusetts, Mỹ vừa chế tạo thành công một dãy cảm ứng, lần đầu tiên, có thể dò ra các phân tử đơn hydrogen peroxide (nước ôxy già) phát ra từ một tế bào sống.

Từ lâu, hydrogen peroxide được cho là làm phá hủy tế bào và ADN của chúng, nhưng các nhà khoa học gần đây đã khám phá ra rằng dường như nó còn hoạt động như một phân tử báo hiệu ở một tuyến đường kích thích sự sinh trưởng chủ chốt của tế bào.

Khi tuyến đường này đi sai, các tế bào trở thành các tế bào ung thư, vì vậy hiểu được vai trò của hydrogen peroxide có thể dẫn tới những mục tiêu mới cho các loại thuốc điều trị ung thư tiềm năng. Nhóm nghiên cứu của Michael Strano đã phát triển thành công một dãy cảm ứng mới từ các ống nano cácbon và sử dụng dãy cảm ứng này để nghiên cứu dòng chảy của hydrogen peroxide xảy ra khi một tác nhân sinh trưởng phổ biến có tên là EGF hoạt hóa mục tiêu của nó, một thụ thể tiếp nhận được gọi là EGFR có vị trí tại các bề mặt của tế bào. Lần đầu tiên, nhóm nghiên cứu đã chứng tỏ các mức hydrogen peroxide cao gấp đôi khi EGFR được hoạt hóa.

EGF và các tác nhân sinh trưởng khác khiến cho tế bào sinh trưởng hoặc phân chia thông qua một loạt các phản ứng phức tạp bên trong tế bào. Vẫn chưa rõ chính xác là có bao nhiêu lượng hydrogen peroxide tác động tới quy trình này, nhưng nhóm nghiên cứu phỏng đoán có thể nó làm khuếch đại tín hiệu EGFR, làm thông điệp tới tế bào mạnh lên. Do hydrogen peroxide là một phân tử nhỏ không phân tán xa (khoảng 200 nano mét) nên tín hiệu cũng sẽ bị giới hạn ở tế bào nơi mà nó được sinh ra.

Nhóm nghiên cứu cũng nhận thấy ở các tế bào ung thư da, được cho là có mức hoạt động của EGFR hoạt tính quá mức, dòng hydrogen peroxide lớn gấp 10 lần so với ở tế bào bình thường. Do sự khác biệt lớn này, nhóm nghiên cứu cho rằng công nghệ này có thể được sử dụng để tạo ra các thiết bị chẩn đoán một số dạng ung thư.

Nhóm nghiên cứu cho biết, lần đầu tiên họ đã chứng tỏ được một dãy cảm ứng xác định một phân tử đơn. Nhóm nghiên cứu cho biết, bộ cảm ứng gồm một màng mỏng các ống nano cácbon được nhúng trong colagen. Các tế bào sinh trưởng trên bề mặt colagen và colagen cũng thu hút và làm mắc kẹt hydrogen peroxide do tế bào giải phóng ra. Khi các ống nano tiếp xúc với hydrogen peroxide bị mắc kẹt, màu huỳnh quang của nó sẽ phát sáng. Bằng cách đếm các vạch phát sáng, có thể thu được số lượng chính xác các phân tử có liên quan.

NASATI (Theo Newswise, 8/03/2010)

Không nên ăn bì lợn

Theo các nhà khoa học, ôxy già không ảnh hưởng tới sức khỏe người sử dụng mà là khuẩn Samolenla có trong bì lợn thối. Tuy nhiên, ngay cả bì lợn tươi mới, người dân cũng không nên ăn vì đây là loại thức ăn khó tiêu, thậm chí gây nguy hiểm cho ruột.
>> Phát hiện bì heo phân hủy chế biến thành thực phẩm

Lông trên bì lợn gây tổn thương ruột, dạ dày

Trong bì lợn có protein rất khó tiêu và đặc biệt là những "thủy tinh con" - chân lông - có khả năng cắm vào màng nhầy ruột non gây tổn thương ruột

Gần 3 tấn bì lợn thối được tẩy trắng bằng ôxy già đã được cơ quan chức năng tại TP HCM đưa đi tiêu huỷ vào những ngày vừa qua, khiến dư luận phẫn nộ về hành vi gian lận thương mại, bất chấp sức khoẻ cộng đồng của một số cơ sở chế biến bì lợn.

Theo TS Nguyễn Mạnh Đôn, Trưởng ban Khoa học Công nghệ và Kinh tế, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam, trong thực phẩm, bì lợn không được coi là thức ăn bổ dưỡng mà chủ yếu sử dụng làm hồ dán. Vì vậy, ngay cả khi chưa bị thối, người tiêu dùng cũng không nên ăn bì lợn.

Tương tự, TS Nguyễn Duy Thịnh, Viện Công nghệ sinh học – Công nghệ thực phẩm (Đại học Bách khoa Hà Nội), trong bì lợn cũng có protein nhưng rất khó tiêu. Nguy hiểm của bì lợn tẩy trắng ngâm ôxy già không phải từ hoá chất này mà chính là những chiếc lông còn sót lại trên bì lợn. Trước đây, những người làm nghề mổ lợn thường đun nước nóng để cạo lông lợn.

Nhưng hiện nay, để đẩy nhanh tiến độ, các lò giết mổ lợn thường cạo sống. Vì vậy, chân của lông lợn vẫn còn ở lại bì. TS Duy Thịnh cho biết những chiếc lông này rất cứng, được ví như thuỷ tinh con, khi ăn vào ruột sẽ cắm vào màng nhầy (một chất tiết ra men để tiêu hoá thức ăn-PV) ở ruột non và dạ dày gây tổn thương màng ruột, dạ dày. Hiện ở nước ngoài, người ta không dùng bì lợn làm thực phẩm trực tiếp mà chỉ sử dụng để làm thạch và chất phụ gia hoặc thuộc da trong công nghiệp.

Tích tụ chất độc

Bì lợn thối đang được tẩy trắng bằng nước ôxy già

Cũng theo TS Nguyễn Duy Thịnh, bản thân hoá chất ôxy già dùng để ngâm bì lợn thối không ảnh hưởng đến sức khoẻ người sử dụng vì ôxy già chỉ có tác dụng tẩy trắng và khử trùng các vi sinh vật có trong bì lợn. Tuy nhiên, nguy hiểm ở đây chính là bì lợn đã bị các vi sinh vật có tên là Samolenla tấn công.

Vi sinh vật này phát triển rất mạnh trong môi trường giàu protein như thịt, bì lợn và có thể tồn tại ở nhiệt độ cao. Vì vậy, cho dù tẩy trắng hay khử trùng hoặc nấu chín vẫn không tiêu diệt được độc tố. Nếu đun kỹ trong một thời gian dài, có thể vi sinh vật sẽ bị tiêu diệt nhưng lượng độc tố vẫn còn lại trong thực phẩm và biến đổi thành độc chất aflatoxin rất có hại cho cơ thể.

TS Nguyễn Duy Thịnh cũng cảnh báo, sự nguy hiểm của bì lợn thối tẩy ôxy già là nếu sử dụng ở mức độ ít, sẽ không gây ngộ độc cấp như: Sốt, tiêu chảy, đau bụng, buồn nôn… để người sử dụng nhận biết và ngưng lại. Vì vậy, nhiều người chủ quan mỗi ngày ăn một ít khiến độc chất aflatoxin tích tụ dần dần trong cơ thể gây nên tình trạng ngộ độc trường diễn rất nguy hại cho cơ thể vì aflatoxin cũng được coi là một độc tố có khả năng gây ung thư.

TS Nguyễn Mạnh Đôn cũng cho rằng, bản thân chất ôxy già không gây hại vì khi mở ra không khí, ôxy già sẽ phân huỷ thành nước và ôxy. Tài liệu của trang web Bách khoa toàn thư mở Wikipedia cũng cho biết ở nồng độ rất thấp (dưới 5%), ôxy già được sử dụng phổ biến để tẩy tóc người. Ở nồng độ thấp (3%), nó được sử dụng trong y học để rửa vết thương và loại bỏ các mô chết.

Ở nồng độ trên 50%, ôxy già sẽ là một chất ăn mòn. Tuy nhiên, trong trường hợp này, TS Nguyễn Mạnh Đôn đánh giá nồng độ ôxy già dùng tẩy trắng bì lợn thối cũng ở mức độ vừa phải hoặc đã được pha loãng vì nếu sử dụng ở nồng độ đậm đặc, ôxy già gây bỏng rát và ăn mòn bì lợn không khác gì axít. Tuy nhiên, TS Nguyễn Mạnh Đôn khuyến cáo người dân không nên sử dụng loại thực phẩm biến chất này vì mặc dù ở nồng độ vừa phải nhưng tác dụng lên một chất axít béo không no như bì lợn sẽ phản ứng thành một hợp chất khác gây nguy hại cho sức khoẻ.

Theo Mai Thúy

Gia đình & Xã hội

Không bôi ôxy già vào vết thương đang lành

Cập nhật lúc 12h58′ ngày 03/02/2007

Nước ôxy già thường được dùng với mục đích sát khuẩn, làm sạch vết thương. Tuy nhiên, nếu vết thương đang lành, bạn không nên dùng nó bởi ôxy già sẽ làm tổn thương phần da mới phục hồi, khiến bệnh lâu lành hơn.


Nước ôxy già (hydrogen peroxide) có mặt trong hầu hết các hiệu thuốc. Nó là chất ôxy hóa, được sử dụng như thuốc kháng khuẩn thứ yếu, có tác dụng tẩy uế, làm sạch vết thương và khử mùi. Nó cũng được dùng kết hợp với những chất khử khuẩn khác để tẩy uế tay, da và niêm mạc; rửa miệng trong điều trị viêm miệng cấp và súc miệng khử mùi; làm sạch ống chân răng và những hốc tủy khác; dùng nhỏ tai để loại bỏ ráy tai.Khi tiếp xúc với mô bệnh, ôxy già giải phóng ra ôxy (nên có hiện tượng sủi bọt), dẫn đến loại bỏ mảnh vụn của mô và mủ, làm sạch vết thương. Ngoài ra, nó cũng có tác dụng cầm máu nhẹ.

Tuy nhiên, ôxy già cũng có thể làm bỏng da và niêm mạc, gây tổn thương mô, tẩy trắng tóc và sợi (khi dùng dung dịch đậm đặc). Khi được sử dụng trong thời gian dài làm thuốc súc miệng hoặc rửa miệng, nó có thể gây phì đại nhú lưỡi (lưỡi có lông – hiện tượng này có thể hồi phục).

Vì vậy, khi sử dụng ôxy già, bạn không nên bôi lên những vết thương đang lành vì chất này sẽ gây tổn thương mô, khiến vết thương lâu lành hơn. Không được nhỏ ôxy già vào những khoang kín của cơ thể, bởi ôxy được giải phóng ra không có đường thoát sẽ gây hại. Chẳng hạn, nếu ở đại tràng, nó sẽ gây ra tắc khí mạch, vỡ đại tràng, viêm trực tràng, viêm loét đại tràng và hoại tử ruột…

Theo Sức Khỏe & Đời Sống, Vnexpress

"Mặt trái" của ôxy già

10/10/2009 09:52 (GMT +7)

Trong mỗi hiệu thuốc, nhà thuốc nước ô xy già là loại thuốc không thể thiếu. Tuy nhiên chúng ta mới chỉ biết đến tác dụng sát khuẩn, làm sạch vết thương mà chưa khai thác hết công dụng của loại thuốc sát khuẩn này.

Nước ô xy già còn có tên khoa học là Hydrogen peroxid được sử dụng như một thuốc kháng khuẩn thứ yếu, có tác dụng tẩy uế, làm sạch vết thương và khử mùi.

Vì thế ngoài việc sử dụng để làm sạch vết thương, vết loét, nước ô xy già còn được sử dụng kết hợp với những chất khử khuẩn khác để tẩy uế tay, da và niêm mạc; rửa miệng trong điều trị viêm miệng cấp và súc miệng khử mùi; làm sạch ống chân răng và hốc tủy răng, nhỏ tai để loại bỏ ráy tai… Ngoài ra nước ô xy già còn có tác dụng cầm máu nhẹ.

Khi bôi ô xy già vào vết thương (ô xy già tiếp xúc với mô của cơ thể) ta thấy có hiện tượng sủi bọt là do ô xy già giải phóng ra oxygen có tác dụng kháng khuẩn, dẫn đến loại bỏ mảnh vụn của mô và loại bỏ mủ để làm sạch vết thương. Tuy nhiên tác dụng kháng khuẩn này chỉ duy trì trong thời gian oxygen giải phóng ra và thời gian này rất ngắn.

Ô xy già có nhiều nồng độ khác nhau từ 1,5% đến 30%. Tùy theo mục đích sử dụng mà chọn nồng độ thích hợp nhưng thông thường dùng loại có nồng độ từ 1,5-3%.

Để làm sạch vết thương hoặc vết loét dùng dung dịch ô xy già 1,5-3% hoặc dạng gel 1,5% bôi tại chỗ. Để rửa miệng và xúc miệng khử mùi trong điều trị viêm miệng cấp dùng nước ô xy già 1,5-3% nhưng thường pha loãng ra với cùng thể tích nước. Để làm sạch những vết thương nhỏ ở miệng hoặc lợi dùng ô xy già 1,5% dạng gel, bôi 4 lần/ngày (bôi một lượng gel nhỏ bôi vào, để yên ít nhất một phút, sau đó khạc nhổ ra). Đối với trường hợp muốn loại bỏ ráy tai, cần pha loãng một phần dung dịch nước ô xy già 6% với ba phần nước trước khi nhỏ tai.

Tuy nhiên nước ô xy già cũng không “lành” như ta tưởng. Chúng cũng có thể gây ra những tác dụng phụ ngoài ý muốn như có thể gây ung thư (nên tránh dùng nhiều lần trong thời gian dài). Dung dịch ô xy già có nồng độ đậm đặc có thể gây tổn thương mô (vì thế đối với loại dung dịch ô xy già có nồng độ 27%, 30% được sử dụng để pha những dung dịch loãng hơn và không được bôi lên các tổn thương dạng chưa được pha loãng).

Nước ô xy già cũng có thể gây kích ứng “bỏng” da và niêm mạc. Khi sử dụng nhắc lại nhiều lần đặc biệt dùng để súc miệng hoặc rửa miệng trong thời gian dài có thể gây phì đại nhú lưỡi (còn gọi là hiện tượng lưỡi có lông) nhưng sẽ hồi phục.

Sẽ rất nguy hiểm nếu tiêm hoặc nhỏ dung dịch ô xy già vào những khoang kín của cơ thể do ô xy giải phóng ra không có đường thoát. Vì vậy có trường hợp rửa đại tràng bằng dung dịch ô già đã gây ra tắc khí mạch, vỡ đại tràng, viêm trực tràng, viêm loét đại tràng và hoại tử ruột…

Và cuối cùng cần lưu ý không bôi nước ô xy già lên những vết thương đang lành (lên da non) vì sẽ gây tổn thương mô, khiến vết thương lâu lành hơn.

Theo