Category Archives: Flo-Brom-Iot

Halogen và cuộc sống

  • Người ta khắc chữ, hình lên thủy tinh bằng cách dùng acid HF : do SiO2 tan được trong HF tạo ra SiF4.
  • Để khử khí Clo độc trong phòng thí nghiệm, người ta xịt khí NH3 do khí này gặp Clo tạo NH4Cl, hơn nữa NH3 nhẹ hơn không khí nên dễ dàng bay đi.
  • Clo có khả năng diệt khuẩn: Khi clo hoà tan vào nước tạo axit hypocloric không bền. Khi gặp ánh sáng hoặc nhiệt, axit này tạo oxi mới sinh. Các vi khuẩn gặp oxi mới sinh, các chất khử bên trong chúng bị phân huỷ, vi khuẩn sẽ bị tiêu diệt. KMnO4 cũng có tính chất này nên cũng dùng để diệt khuẩn
  • Bột tẩy trắng có khả năng tẩy trùng: bột này có thành phần quan trọng là clorua vôi. Trong không khí hoặc axit, clorua vôi tạo axit hipocloric, axit này tạo oxi mới sinh, có khả năng tẩy trùng
  • Bọc phim sống bằng giấy đen: phim sống được tráng một lớp bạc bromua nhạy cảm với ánh sáng. Khi có ánh sáng chiếu vào nó sẽ bị phân huỷ
  • Nước javel để lâu ngoài không khí sẽ giảm tác dung tẩy màu, do NaClO bị phân hủy thành NaCl và NaClO3

NaClO –> NaCl + NaClO3

Diễn đàn H2VN

PHÁT HIỆN DẤU VÂN TAY

Để điều tra các vụ án mạng hay trộm cắp, công an thường rắc bột để phát hiện dấu vân tay của thủ phạm. Ta cũng có thể biểu diễn thí nghiệm vui này.
– Hoá chất: cồn iot
– Cách làm: Bạn đưa một tờ giấy trắng và sạch cho khán giả và yêu cầu họ bí mật in dấu ngón tay và và ngón tay trỏ ở hai bàn tay của một người nào đó lên tờ giấy. Bạn thu lại tờ giấy và mang đậy úp tờ giấy lên miệng lọ đựng cồn iot. Sau một thời gian,lấy ra bạn sẽ thấy rõ các dấu vân tay xuất hiện trên giấy. Bạn chỉ cần thu giấy chứng minh thư của khán giả để đối chiếu dấu tay và tìm ngay được “thủ phạm”
– Giải thích: khi ta in tay lên giấy, tay ta sẽ để lại trên giấy vết mỡ của da. cồn iot sẽ hoà tan vết mỡ này làm xuất hiện dấu tay.

victonh.wordpress.com

Cách tìm Vitamin C

Muốn biết trong rau nào có vitamin C hay không có thể kiểm tra nhanh bằng cách sau đây:  Cho vào bình thuỷ tinh một ít tinh bột, rồi một ít nước, khuấy trộn bằnh que nhỏ đều tinh bột và nước, nhỏ 2 – 3 giọt rượu lốt vào hỗn hợp nước – tinh bột màu trắng sữa thì hỗn hợp đó đổi thành màu tím xanh.

Lấy 2 – 3 tàu rau xanh, tước lá rau chỉ để lại cuống lá, rồi đem ép lấy dịch từ cuống lá, sau đó từ từ nhỏ vào hỗn hợp tinh bột – iốt màu tím xanh, vừa nhỏ vào, vừa lắc. Khi đó, bạn sẽ phát hiện: Dung dịch màu xanh tím lại biến màu, trở thành màu trắng sữa.

Do tinh bột gặp Iốt thì biến thành màu tím xanh – đó là đặc tính của tinh bột. Nhưng, vitamin C làm cho iốt bột biến thành dung dịch không màu.

Khi nhỏ dịch rau vào hỗn hợp tinh bột có chứa Iốt thì do có tác dụng của vitamin C trong dịch rau mà Iốt biến thành chất lỏng không màu. Cho nên hỗn hợp vốn có màu xanh biến thành hỗn hợp tinh bột màu trắng sữa.

victonh.wordpress.com

Chemistry of Ozone Depletion by CFCs


CFCs destroy the ozone in the stratosphere (15 – 20 km above the earth’s surface)
(Ozone concentrations are measure in Dobsen units, 1 Dobsen unit represents 1 molecule of O3 for every 1 billion air molecules)
Ozone loss is greatest over Antarctica where the ozone depletion has been recorded and is commonly referred to as the “ozone hole”.
Ozone (O3), an allotrope of oxygen, is poisonous to humans if breathed in, but is important to life in that it filters out or absorbs short wavelength ultraviolet radiation (u.v) in the 280 – 320nm range which can cause serious sunburn, skin cancer and eye disorders.
The inertness and lack of water solubilty of CFCs mean they are not destroyed nor are they dissolved in rain water so they stay in the atmosphere for a very long time and diffuse up to the stratosphere
In the stratosphere, CFCs come into contact with short wavelength ultraviolet radiation which is able to split off chlorine atoms from the CFC molecules

CCl2F(g) u.v radiation—————> CCl2F(g) + Cl(g)

These chlorine atoms destroy the ozone layer

Cl(g) + O3(g) ————-> ClO(g) + O2(g)

There are significant numbers of oxygen atoms in the stratosphere (since ozone undergoes a natural photochemical decomposition producing oxygen atoms and molecules) which leads to the regeneration of chlorine atoms in the stratosphere.So, 1 CFC molecule can destroy many ozone molecules.

ClO(g) + O(g) ————-> O2(g) + Cl(g)

http://www.chem4all.vn

PHÒNG CHỐNG RỐI LOẠN DO THIẾU IỐT

Ts. Nguyễn Xuân Ninh

Iốt là vi chất dinh dưỡng rất cần thiết cho phát triển của cơ thể, cần cho tổng hợp hóc môn giáp duy trì thân nhiệt, phát triển xương, quá trình biệt hóa và phát triển của não và hệ thần kinh trong thời kỳ bào thai.

Thiếu iốt sẽ dẫn đến thiếu hóc môn giáp và gây ra nhiều rối loạn khác nhau: bướu cổ, rối loạn bệnh lý khác như sảy thai, thai chết lưu, khuyết tật bẩm sinh, thiểu nǎng trí tuệ, đần độn,cơ thể chậm phát triển, mệt mỏi, giảm khả nǎng lao động . . .

Hiện nay, trên thế giới có khoảng một tỷ rưỡi người sống trong vùng thiếu iốt và có nguy cơ bị các rối loạn do thiếu iốt. Trong đó 655 triệu người có tổn thương não và 11,2 triệu người bị đần độn.

Việt nam là một nước nằm trong vùng thiếu iốt. Tỷ lệ thiếu iôt rất cao và phổ biến toàn quốc từ miền núi đến đồng bằng. Trên những vùng thực hiện tốt chương trình phòng chống bướu cổ thì tỷ lệ bệnh giảm đi đáng kể. Lượng iốt tối ưu cho cơ thể người trường thành là 200 m g/ngày, giới hạn an toàn là 1000 m g/ngày.

Khi cơ thể bị thiếu iốt, tuyến giáp làm việc nhiều hơn để tổng hợp thêm nội tiết tố giáp trạng nên tuyến giáp to lên, gây ra bướu cổ. Bướu cổ là cách thích nghi của cơ thể để bù lại một phần thiếu iốt, khi có kích thước to có thể chèn ép đường thở, đường ǎn uống gây ra các vấn đề ảnh hưởng cho sức khỏe.

Thiếu iốt ở phụ nữ trong thời kỳ mang thai có thể gây ra sẩy thai tự nhiên, thai chết lưu, đẻ non. Khi thiếu iốt nặng trẻ sinh ra có thể bị đần độn với tổn thương não vĩnh viễn. Trẻ sơ sinh có thể bị các khuyết tật bẩm sinh như liệt tay hoặc chân, nói ngọng, điếc, câm, mắt lác. Các hậu quả đó sẽ tồn tại vĩnh viễn trong cả cuộc đời, hiện nay y học chưa chữa được.

Thiếu iốt trong thời kỳ niên thiếu gây ra bướu cổ, chậm phát triển trí tuệ, chậm lớn, nói ngọng, nghễnh ngãng. Trong một số trường hợp nặng, trẻ có thể bị đần độn, liệt cứng hai chân. Trẻ bị thiếu iốt không thể đạt kết quả tốt trong học tập. Thiếu iốt ở người lớn gây ra bướu cổ với các biến chứng của nó như mệt mỏi, không linh hoạt và giảm khả nǎng lao động, hạn chế sự phát triển kinh tế, xã hội.

Tất cả các rối loạn do thiếu iốt kể cả bệnh đần độn hoàn toàn có thể phòng được bằng cách bổ sung một lượng iốt rất nhỏ vào bữa ǎn hàng ngày. Những thức ǎn từ biển (cá, sò, rong biển) là nguồn giàu iốt. Hai biện pháp chủ yếu đang được áp dụng hiện nay trong phòng chống bệnh là:

  • Sử dụng muối iốt trong bữa ǎn. Hiện nay ở nước ta, chính phủ đã quyết định các loại muối ǎn đều được tǎng cường iốt.
  • ở một số vùng có tỷ lệ bướu cổ cao hơn 30% thì dùng dầu iode để hạ nhanh tỷ lệ bướu cổ các đối tượng ưu tiên là trẻ em dưới 15 tuổi và phụ nữ từ 15-45 tuổi.

Tóm lại, các rối loạn do thiếu iốt có thể phòng ngừa được nếu mỗi ngày ǎn 10 gam muối iốt.

http://www.visalco.com.vn

Ba nhà hóa học đầu tiên có trong tay Brom ở trạng thái tự do

1. Bala (1802-1876)

Brom được công nhận do Angtoan Bala (1802-1876) người xứ Môngpeliê (Pháp) tìm thấy năm 1826.

Antoine Jerome Balard (1802-1876) [Bala]

Sau khi học xong trường trung học, ông làm trợ thủ phòng thí nghiệm cho giáo sư hóa học Anggat. Có điều kiện làm việc, ông bắt đầu nghiên cứu thảo mộc của những đầm lầy nước mặn. Trong lúc làm bay hơi nước cho đến khi xuất hiện muối ăn, ông nhận thấy rằng trong nước cái cũng có Na2SO4. Sự kiện này đã gợi ý cho nhà bác học trẻ tuổi một ý nghĩ là phải nghiên cứu tỉ mỉ hơn nữa nước muối để tìm thấy ở nó những ứng dụng thực tế. Ông tiến hành một loạt các thí nghiệm và đã xác định được rằng khi cho khí clo tác dụng với nước muối thì có một màu đỏ nâu đậm xuất hiện. Nước rửa tro của rong biển còn đưa lại nhiều điều quan trọng hơn nữa. Khi cho nước clo vào tinh bột tác dụng lên nước đó, Bala nhận thấy một chất màu xanh ở phía dưới và phía trên là một lớp nước có màu vàng thẫm. Ông cho rằng màu xanh là của hợp chất iot và tinh một, và để giải thích màu vàng của lớp phía trên ông giả thiết là trong lớp đó có một hợp chất của clo với iot. Nhưng ý định tách hợp chất giả thiết đó là phân tích nó thành các phần cấu tạo đã không đem lại kết quả nào. Ông phải bỏ giả thiết thứ nhất và đặt giả thiết khác là màu vàng đó là của một nguyên tố mới. Dùng ete, ông đã lấy được brom ra khỏi dung dịch và khi cho bromua tác dụng với axit sunfuric và mangan dioxit ông đã thu được brom ở dạng lỏng màu đỏ nâu. Ông gọi nguyên tố mới này là murit (tiếng la tinh có nghĩa là nước muối) và nó là nguyên tố phi kim duy nhất ở thể lỏng. Bala đã viết một bài về phát minh của minh trên báo “ Annales de chimie et de physique” và theo ý kiến của các thầy giáo, ông đã gửi bản báo cáo lên Viện hàn lâm khoa học Paris. Và nếu như kết quả đã tìm thấy được các nhà khoa học xác nhận thì brom phải là một đơn chất và xếp trong cùng dãy với clo và iot

Để kiểm tra phát minh của Bala, Viện hàn lâm đã thành lập một hội đồng khoa học gồm Gay Luyxắc, Têna và Vôkêlen. Họ đã chứng nhận sự phát minh của ông là đúng đắn và đề nghị gọi nó là brom do mùi hôi thối của nguyên tố đó (chữ Hylap có nghĩa là hôi thối)

Sau sự việc phát minh ra brom, Bala trước kia là một thanh niên ít người biết đến thì nay được Đêvy khen ngợi và được thưởng huy chương của hội hoàng gia Anh vì công trình lớn lao của ông. Ông cho rằng khoa học phải “phục vụ cho việc kết hợp các lực lượng của thiên nhiên để nâng cao năng suất lao động và đưa dần loài người đến bnìh đẳng bằng cách làm cho mọi người đều sung túc” .

2. Liêbic

Nhà khoa học danh tiếng Liêbic có nói rằng chính brom đã phát minh ra Bala. Sở dĩ ông phát biểu một cách sâu sắc như thế là vì ông đã có trong tay chất brom nhưng ông không tìm ra nó vì ông vội vã và thiếu suy nghĩ. Sự việc xảy ra như sau:

Một hãng buôn Đức có gửi cho Liêbic một chai đựng một chất nước và yêu cầu ông cho biết về chất đó. Nhưng ông không nghiên cứu tỉ mỉ và trả lời với hãng buôn trên rằng chất nước đó là một hỗn hợp của clo và iot. Sau phát minh của Bala thì Liêbic mới nhớ đến kết luận của mình và xác nhận rằng mình đã sai lầm. Suốt đời ông không thể tha thứ và rút ra bài học cho mình: Không thể có một tai hoạ nào lớn hơn đối với một nhà hoá học khi mà ông ta không thoát khỏi những định kiến và ra sức giải thích mọi hiện tượng mà không dựa trên thí nghiệm

3. Cac Lovic (1803-1890)

Cùng một lúc với nh ững công cuộc nghiên cứu của Bala, một thanh niên khác là Cac Lovic (1803 – 1890) sinh viên trường đại học Hâyđenbe cũng nghiên cứu về brom. Sống ở quê hương của minh, Lovic quan tâm đến nguồn nước miền Crâyxnac, đã tách được các muối ra khỏi nước đó rồi cho khí clo đi vào nước cái còn lại. Anh thấy xuất hiện một chất lỏng màu vàng khó ngửi. Lovic không có đầy đủ về kinh nghiệm thức hành nên đã đưa chất lỏng cho thầy giáo của anh là giáo sư Gơmenlin. Ông đã bảo điều chế thật nhiều và nghiên cứu nó. Trong khi đó thì Bala đã viết một bài báo về sự phát minh ra brom.

Như vậy là ba nhà bác học đều có trong tay nguyên tố mới là brom nhưng chỉ có Bala đã tỏ ra đầy đủ nghị lục và ý chí sắc đá để bảo vệ quyền ưu tiến phát minh ra nguyên tố đó.

Theo forum.hoahoc.org

Freon

(A. freon), tên thương mại của một nhóm hiđrocacbon mà phân tử chứa một hoặc nhiều nguyên tử flo. Phân biệt: freon 11 (CCl3F), freon 12 (CCl2F2), Freon 22 (CHClF2), vv. F có thể ở dạng khí hoặc lỏng. Tan trong dung môi hữu cơ, không tan trong nước; không cháy; ít độc; trơ về mặt hoá học. Điều chế bằng cách cho SbCl3, HF hoặc KF tác dụng với dẫn xuất policlo của hiđrocacbon với điều kiện có xúc tác. Được dùng làm tác nhân làm lạnh cho máy lạnh (từ những năm 1930); làm chất tạo bọt, chất chống cháy, nguyên liệu điều chế floolefin và polime bền với nhiệt, trơ về hoá học. F dễ bay hơi lại bền nên có thể tích luỹ với lượng lớn ở tầng khí quyển cao, phá huỷ tầng ozon bảo vệ Trái Đất do tương tác của ozon với clo nguyên tử được hình thành trong quá trình phân huỷ F dưới tác dụng của ánh sáng Mặt Trời.

Lịch sử

Freon được phát triển đầu thế kỷ 20 như là chất thay thế cho các khí độc hại trước đó được sử dụng làm chất làm lạnh, như amoniac, clorometan, điôxít sulfur. Freon, trong trường hợp này là diclorodiflorometan, do Thomas Midgley, Jr. cùng Charles Kettering tạo ra. Mỗi sản phẩm Freon đều có số riêng cho nó; ví dụ Freon-11 là tricloroflorometan, trong khi Freon-12 là diclorodiflorometan. Trong thập niên 1990, phần lớn việc sử dụng Freon đã bị loại bỏ do các tác động tiêu cực mà các cloroflorocacbon và các hydrocloroflorocacbon gây ra đối với tầng ôzôn của khí quyển.

Properties of saturated liquid Dichlorodifluoromethane – Freon – CCl2F2 – density, specific heat capacity, kinematic viscosity, thermal conductivity and Prandtl number can be found in the table below.

Temperature
– T –
(oC)
Density
– ρ –
(kg/m3)
Specific Heat Capacity
– cp –
(103 J/kg.K)
Thermal Conductivity
– k –
(W/m K)
Kinematic Viscosity
– ν –
(10-6 m2/s)
Prandtl Number
– Pr –
-50 1547 0.875 0.067 0.310 6.2
-40 1519 0.885 0.069 0.279 5.4
-30 1490 0.896 0.069 0.253 4.8
-20 1461 0.907 0.071 0.235 4.4
-10 1429 0.920 0.073 0.221 4.0
0 1397 0.935 0.073 0.214 3.8
10 1364 0.950 0.073 0.203 3.6
20 1330 0.966 0.073 0.198 3.5
30 1295 0.984 0.071 0.194 3.5
40 1257 1.002 0.069 0.191 3.5
50 1216 1.022 0.069 0.190 3.5

Dichlorodifluoromethane – R-12 – is usually sold under the brand name Freon-12. Dichlorodifluoromethane is a chlorofluorocarbon halomethane used as a refrigerant and aerosol spray propellant. Manufacturing was discontinued in 1995 due to concerns about damage to the ozone layer.

Hiện nay người ta đã thay chất freon bằng chất gì để dùng trong tủ lạnh?

Freon phá hủy tầng ozone, nên người ta tìm cách thay thế bằng các môi chất lạnh khác. Trong công nghiệp có sử dụng lạnh người ta dùng NH3, không sử dụng trong dân dụng. Tuy nhiên, hiện nay NH3 cũng bị thay thế vì nó có thể gây ô nhiễm môi trường và thậm chí trong không gian hẹp sẽ gây ngộ độc. Một chất khác được sử dụng là R304 hoặc R502 (một chất tương tự freon), được dùng cho cả công nghiệp lẫn dân dụng. Chất này an toàn cho người sử dụng và môi trường. Các loại tủ lạnh có nhãn xanh môi trường dùng 2 loại này là chính.

Theo wikipedia