Category Archives: Dẫn xuất Halogen

PHƯƠNG PHÁP GIẢI BÀI TẬP PHẦN DẪN XUẤT HALOGEN

Advertisements

3-MCPD

Theo trình bày của bác sĩ Nguyễn Chấn Hùng: 3-MCPD là tên viết tắt của 3 – Mono-Chloro-Propan 1,2 Diol, đây là một thành phần hóa học thuộc nhóm Chlopropanol. Về nguồn gốc, 3-MCPD được tạo thành chủ yếu từ phản ứng thủy phân giữa protein thực vật và acid chlohydric. 3-MCPD không chỉ hiện diện trong nước tương, mà còn có thể hiện diện trong những thực phẩm khác như, các loại bánh nướng, bia…

Qua thực nghiệm, 3-MCPD là chất có thể gây bệnh ung thư trên chuột như: ung thư tinh hoàn, ung thư vú, ung thư da bìu và ung thư thận… Mặc dù Cơ quan Nghiên cứu quốc tế về ung thư (IARC) chưa xếp loại 3-MCPD vào nhóm các chất gây ung thư cho người, nhưng qua thực nghiệm đã biết chất 3-MCPD gây ung thư trên động vật như nói trên. Vì thế, không phải chờ đợi kiểm chứng trên người mà các nhà chuyên môn cho rằng, cần phải kịp thời không để độc tố này vào trong cơ thể người.

Giáo sư Chu Phạm Ngọc Sơn – Giám đốc Trung tâm Đào tạo nghiên cứu phát triển sắc ký (TP.HCM) cho rằng: “3-MCPD không chỉ có trong nước tương, mà còn có ở các loại sản phẩm từ sữa, ngũ cốc, thịt cá… Mặc dù cho tới nay chưa có một trường hợp nào được xác định chắc chắn là 3-MCPD gây ung thư trên người, nhưng tốt nhất vẫn phải khống chế hàm lượng 3-MCPD ở dưới mức tối đa cho phép…”.

Phòng tránh: Tốt nhất là không nên sử dụng các sản phẩm nghi ngờ có chứa chất 3-MCPD.

Sưu tầm

Chiến tranh hóa học

Tìm hiểu về cuộc chiến tranh hóa học ở Việt Nam:

http://d1.scribdassets.com/ScribdViewer.swf

Chất độc da cam

Chất độc da cam (viết tắt: CĐDC, tiếng Anh: Agent Orange – Tác nhân da cam) là tên gọi của một loại chất thuốc diệt cỏ và làm rụng lá cây được quân đội Hoa Kỳ sử dụng tại Việt Nam trong thời kỳ Chiến tranh Việt Nam. Chất này đã được dùng trong những năm từ 1961 đến 1971 và nhiều người cho rằng đã làm tổn thương sức khỏe của những người dân thường cũng như binh lính Việt Nam, lính Mỹ cũng như lính Úc, Hàn Quốc, Canada, New Zealand có mặt như quân đồng minh của Mỹ mà có tiếp xúc với chất này, cũng như con cháu họ.

Trong thời kỳ Chiến tranh Việt Nam, mục đích quân sự chính thức của CĐDC là làm rụng lá cây rừng để quân đội du kích Mặt trận Dân tộc Giải phóng Miền Nam Việt Nam không còn nơi trốn tránh. CĐDC là một chất lỏng trong; tên của nó được lấy từ màu của những sọc được vẽ trên các thùng phuy dùng để vận chuyển nó. Quân đội Hoa Kỳ còn có một số mã danh khác để chỉ đến các chất được dùng trong thời kỳ này: “chất xanh” (Agent Blue, cacodylic acid), “chất trắng” (Agent White, hỗn hợp 4:1 của 2,4-D và picloram), “chất tím” (Agent Purple) và “chất hồng” (Agent Pink).

Đến năm 1971, CĐDC không còn được dùng để làm rụng lá nữa; 2,4-D vẫn còn được sử dụng để làm diệt cỏ. 2,4,5-T đã bị cấm dùng tại Hoa Kỳ và nhiều quốc gia khác.

Ảnh hưởng đến con người

Người ta đã tìm thấy CĐDC có chứa chất độc dioxin, nguyên nhân của nhiều bệnh như ung thư, dị dạng và nhiều rối loạn chức năng ở cả người Việt lẫn các cựu quân nhân Hoa Kỳ.

2,3,7,8-TCDD, một loại dioxin gây ô nhiễm

Tuy nhiên, Giáo sư Alvin L. Young – chuyên gia dioxin nói rằng “Không có tác hại sinh thái nào được ghi nhận ở động thực vật mặc dù một lượng lớn chất diệt cỏ và dioxin đã được sử dụng”, và rằng “thông tin này chưa được xem xét trong các lần đánh giá trước của Cơ quan Bảo vệ Môi trường Hoa Kỳ và Viện Y học thuộc Viện Hàn lâm Khoa học Quốc gia Hoa Kỳ”. Tuy nhiên, giáo sư lưu ý rằng “các chất diệt cỏ đổ thẳng xuống đất và ngấm sâu trước khi thoái biến thì sẽ có tồn dư và vì vậy là một mối lo ngại.”[1]. Còn theo Cựu Đại sứ Mỹ tại VN ông Michael Marine vẫn cho rằng mối liên hệ giữa sự phơi nhiễm dioxin và sức khoẻ con người vẫn chưa được chứng minh. Tuy nhiên ông đã công bố khoản tài trợ trị giá 400 nghìn USD để nghiên cứu ô nhiễm dioxin và tẩy độc tại sân bay Đà Nẵng

Vụ kiện của các nạn nhân Việt Nam

Ngày 31 tháng 1 năm 2004, nhóm bảo vệ quyền lợi nạn nhân CĐDC, Hội Nạn nhân Chất độc da cam/dioxin Việt Nam (The Vietnam Association of Victims of Agent Orange/Dioxin – VAVA) đã kiện hơn 30 công ty Mỹ phải bồi thường do trách nhiệm gây ra thương tích vì đã sản xuất chất hóa học này. Dow Chemical và Monsanto là hai công ty sản xuất CĐDC lớn nhất cho quân đội Hoa Kỳ đã bị nêu tên trong vụ kiện cùng các công ty khác. Trước đây nhiều cựu quân nhân Hoa Kỳ đã thắng một vụ kiện tương tự.

Hình ảnh một số trẻ em VN bị hậu quả chất độc màu da cam

Các nạn nhân tham gia kiện gồm có:

  1. Phan Thị Phi Phi
  2. Nguyễn Văn Quý
  3. Dương Quỳnh Hoa (đã mất tháng 2 năm 2006)

Vào ngày 10 tháng 3 năm 2005, quan tòa Jack Weinstein (thuộc Tòa án liên bang tại quận Brooklyn) đã bác đơn kiện, quyết định rằng những đòi hỏi của đơn kiện không có cơ sở pháp luật. Quan tòa kết luận rằng CĐDC đã không được xem là một chất độc dưới luật quốc tế vào lúc Hoa Kỳ dùng nó; rằng Hoa Kỳ không bị cấm dùng nó để diệt cỏ; và những công ty sản xuất chất này không có trách nhiệm về cách sử dụng của chính quyền.

Chính phủ Hoa Kỳ, vốn có quyền miễn tố (sovereign immunity), không phải là một bị cáo trong đơn kiện. Tuy nhiên, vào năm 1984 cũng từ phiên tòa của vị quan tòa này, chính các công ty trên đã chi khoảng 180 triệu USD cho các gia đình người Mỹ là cựu chiến binh Việt Nam mặc dù không thừa nhận có hành động sai trái.

Hai mươi mục trong phán quyết của thẩm phán Jack Weinstein ngày 10 tháng 3 về vụ kiện của các nạn nhân chất độc da cam Việt Nam đối với các công ty hoá chất đã được phân tích của Mandrew Wells-Dang, đại diện Quỹ Hoà giải và Phát triển

Ngày 7 tháng 4 năm 2005 các nguyên đơn Việt Nam đã tiếp tục gửi đơn kháng cáo lên Tòa Phúc thẩm của Mỹ đòi lật lại quyết định của tòa sơ thẩm.

Tòa Phúc thẩm Khu vực 2 tại Manhattan bắt đầu xem xét lại vụ kiện vào tháng 6 năm 2006, ra phán quyết vào tháng 2 năm 2007 đồng ý với phán quyết của Tòa sơ thẩm.

Khoai tây xanh rất độc

Nghe có vẻ đùa, hay có thể chỉ là một câu chuyện tưởng tượng của bác sĩ Seuss “Trứng xanh và jăm bông”. Nhưng các nhà khoa học nói đây không phải là chuyện hư cấu. Sự thật là khoai tây xanh chứa hàm lượng toxin, solanine cao có thể gây buồn nôn, nhức đầu và các vấn đề về thần kinh.

Khoai tây vốn tạo được một ít chất solanine như một hợp chất chống côn trùng, nhưng hàm lượng chất này sẽ gia tăng nếu củ khoai tây tiếp xúc với ánh sáng và nhiệt độ ấm hơn trong thời gian dài.

Màu xanh lá cây thực sự là do chất chlorophyll tạo nên, bản thân chất này vô hại. Nhưng nó cũng là dấu hiệu cho biết nồng độ chất solanine, được hình thành cùng thời điểm với chlorophyll, cũng đang gia tăng.

Theo 1 báo cáo gần đây của Alexander Pavlista, giáo sư ngành nông lâm nghiệp ở Đại học Nebraska, Lincoln, một người cân nặng 100 pound (khoảng 45 kg) dùng khoảng 16 ounce (khoảng 454 g) khoai tây xanh hoàn toàn sẽ bị bệnh. Đó là khối lượng của 1 củ khoai tây nướng lớn.

Bài báo cáo (xem miễn phí) lưu ý rằng hầu hết khoai tây xanh không bao giờ bày bán ở chợ. Hơn nữa, để tránh sự phát triển của solanine, tốt nhất nên bảo quản khoai tây nơi mát mẻ, khu vực ít ánh sáng, và nhớ gọt bỏ những khu vực màu xanh trên củ khoai tây trước khi ăn.

Một nguyên tắt có lợi cho sức khỏe là: nếu khoai tây có vị đắng, đừng ăn củ khoai đó. Khác với bữa ăn chính của bác sĩ Seuss, món ăn xanh này sẽ không đem lại kết quả vui vẻ.

Tóm lại, khoai tây xanh chứa một hợp chất có thể gây bệnh.

QT
(Theo The New York Times)
hoahocdoisong.com

Chemistry of Ozone Depletion by CFCs


CFCs destroy the ozone in the stratosphere (15 – 20 km above the earth’s surface)
(Ozone concentrations are measure in Dobsen units, 1 Dobsen unit represents 1 molecule of O3 for every 1 billion air molecules)
Ozone loss is greatest over Antarctica where the ozone depletion has been recorded and is commonly referred to as the “ozone hole”.
Ozone (O3), an allotrope of oxygen, is poisonous to humans if breathed in, but is important to life in that it filters out or absorbs short wavelength ultraviolet radiation (u.v) in the 280 – 320nm range which can cause serious sunburn, skin cancer and eye disorders.
The inertness and lack of water solubilty of CFCs mean they are not destroyed nor are they dissolved in rain water so they stay in the atmosphere for a very long time and diffuse up to the stratosphere
In the stratosphere, CFCs come into contact with short wavelength ultraviolet radiation which is able to split off chlorine atoms from the CFC molecules

CCl2F(g) u.v radiation—————> CCl2F(g) + Cl(g)

These chlorine atoms destroy the ozone layer

Cl(g) + O3(g) ————-> ClO(g) + O2(g)

There are significant numbers of oxygen atoms in the stratosphere (since ozone undergoes a natural photochemical decomposition producing oxygen atoms and molecules) which leads to the regeneration of chlorine atoms in the stratosphere.So, 1 CFC molecule can destroy many ozone molecules.

ClO(g) + O(g) ————-> O2(g) + Cl(g)

http://www.chem4all.vn

Freon

(A. freon), tên thương mại của một nhóm hiđrocacbon mà phân tử chứa một hoặc nhiều nguyên tử flo. Phân biệt: freon 11 (CCl3F), freon 12 (CCl2F2), Freon 22 (CHClF2), vv. F có thể ở dạng khí hoặc lỏng. Tan trong dung môi hữu cơ, không tan trong nước; không cháy; ít độc; trơ về mặt hoá học. Điều chế bằng cách cho SbCl3, HF hoặc KF tác dụng với dẫn xuất policlo của hiđrocacbon với điều kiện có xúc tác. Được dùng làm tác nhân làm lạnh cho máy lạnh (từ những năm 1930); làm chất tạo bọt, chất chống cháy, nguyên liệu điều chế floolefin và polime bền với nhiệt, trơ về hoá học. F dễ bay hơi lại bền nên có thể tích luỹ với lượng lớn ở tầng khí quyển cao, phá huỷ tầng ozon bảo vệ Trái Đất do tương tác của ozon với clo nguyên tử được hình thành trong quá trình phân huỷ F dưới tác dụng của ánh sáng Mặt Trời.

Lịch sử

Freon được phát triển đầu thế kỷ 20 như là chất thay thế cho các khí độc hại trước đó được sử dụng làm chất làm lạnh, như amoniac, clorometan, điôxít sulfur. Freon, trong trường hợp này là diclorodiflorometan, do Thomas Midgley, Jr. cùng Charles Kettering tạo ra. Mỗi sản phẩm Freon đều có số riêng cho nó; ví dụ Freon-11 là tricloroflorometan, trong khi Freon-12 là diclorodiflorometan. Trong thập niên 1990, phần lớn việc sử dụng Freon đã bị loại bỏ do các tác động tiêu cực mà các cloroflorocacbon và các hydrocloroflorocacbon gây ra đối với tầng ôzôn của khí quyển.

Properties of saturated liquid Dichlorodifluoromethane – Freon – CCl2F2 – density, specific heat capacity, kinematic viscosity, thermal conductivity and Prandtl number can be found in the table below.

Temperature
– T –
(oC)
Density
– ρ –
(kg/m3)
Specific Heat Capacity
– cp –
(103 J/kg.K)
Thermal Conductivity
– k –
(W/m K)
Kinematic Viscosity
– ν –
(10-6 m2/s)
Prandtl Number
– Pr –
-50 1547 0.875 0.067 0.310 6.2
-40 1519 0.885 0.069 0.279 5.4
-30 1490 0.896 0.069 0.253 4.8
-20 1461 0.907 0.071 0.235 4.4
-10 1429 0.920 0.073 0.221 4.0
0 1397 0.935 0.073 0.214 3.8
10 1364 0.950 0.073 0.203 3.6
20 1330 0.966 0.073 0.198 3.5
30 1295 0.984 0.071 0.194 3.5
40 1257 1.002 0.069 0.191 3.5
50 1216 1.022 0.069 0.190 3.5

Dichlorodifluoromethane – R-12 – is usually sold under the brand name Freon-12. Dichlorodifluoromethane is a chlorofluorocarbon halomethane used as a refrigerant and aerosol spray propellant. Manufacturing was discontinued in 1995 due to concerns about damage to the ozone layer.

Hiện nay người ta đã thay chất freon bằng chất gì để dùng trong tủ lạnh?

Freon phá hủy tầng ozone, nên người ta tìm cách thay thế bằng các môi chất lạnh khác. Trong công nghiệp có sử dụng lạnh người ta dùng NH3, không sử dụng trong dân dụng. Tuy nhiên, hiện nay NH3 cũng bị thay thế vì nó có thể gây ô nhiễm môi trường và thậm chí trong không gian hẹp sẽ gây ngộ độc. Một chất khác được sử dụng là R304 hoặc R502 (một chất tương tự freon), được dùng cho cả công nghiệp lẫn dân dụng. Chất này an toàn cho người sử dụng và môi trường. Các loại tủ lạnh có nhãn xanh môi trường dùng 2 loại này là chính.

Theo wikipedia