Blog Archives

Giới thiệu Acid Rain Students Site

  • Giao diện trang Home của Acid Rain Students Site

  • Trang Food Web

Người Việt có thể dùng nước mưa axit ăn uống bình thường?

27/11/09 20:08

Hiện tại ở Việt Nam chưa có nghiên cứu về tác động của mưa axit đối với con người, mà chỉ nghiên cứu thành phần của mưa axit và tác động của nó lên một số loại động thực vật.
Mưa axit tác động lên bức tượng tại thủ đô Viên , Áo. Ảnh D.H.S
Mưa axit tác động lên bức tượng tại thủ đô Viên , Áo. Ảnh D.H.S

Ức chế sinh trưởng vì mưa axit

Mưa axit lớn có thể hòa tan được một số bụi kim loại và oxit kim loại có trong không khí như oxit chì…, làm thành phần của nước trở nên độc hại, khiến cho các sinh vật bị suy yếu hoặc chết.

Đánh giá về mức độ ảnh hưởng của mưa axit lên tôm sú, Thạc sĩ Nguyễn Thị Kim Lan (Phân viện Khí tượng Thủy văn và Môi trường phía Nam) cho biết kết quả thực nghiệm như sau: Ứng với nước ao có độ mặn 6 phần nghìn và pH là 6,6 – 6,7 thì lô tôm sú thí nghiệm chết 46% sau một trận mưa. Nguyên nhân do pH nước mưa là 4,3 khiến pH nước ao giảm đột ngột 0,8 đơn vị, độ axit trong nước ao tăng khiến tôm sú chết.

Ngoài ra, mưa axit còn làm tăng các chỉ số độc hại và làm giảm các chỉ số dinh dưỡng trong đất, rễ cây bị phá hủy và ức chế sinh trưởng. Từ kết quả thực nghiệm với rau cải, ThS Lan nhận định rằng, mưa axít có thể làm giảm 20-69% năng suất rau trồng.

Vẫn có thể ăn, nhưng…

Về lý thuyết, ThS Nguyễn Thị Kim Lan cho biết: “Hai hợp chất axit sunfuric (H2SO4) và axit nitric (HNO3) được giới chuyên môn xem là “thủ phạm” gây mưa axit. Nguồn gốc của hai hợp chất này có liên quan mật thiết đến khí dioxit sunfua (SO2) và các ôxit nitơ (NOx) trong khí quyển.

Thùng hứng nước mưa từ mái tôn chảy xuống
Thùng hứng nước mưa từ mái tôn chảy xuống. Ảnh: Bee

Trong khi đó, SO2 và NOx chính là những chất gây ô nhiễm không khí, xuất phát từ hoạt động công nghiệp, giao thông. Mưa axit do các hoá chất nhiễm bẩn tạo thành, phổ biến là SO2 và NOx, khi chúng thâm nhập vào cơ thể qua các đường khác nhau đều gây tác hại cho người, đặc biệt với hệ hô hấp. Nếu lượng SO2 được đưa vào cơ thể người với nồng độ cao và liên tục thì sẽ gây phù thanh quản, viêm phế quản”.

Tuy nhiên, người dân ở nông thôn thường có thói quen hứng và tích trữ nước mưa cho sinh hoạt hàng ngày, trong đó có việc ăn uống. Vậy họ có nên bỏ thói quen đó hay không?

PGS.TS Lê Văn Cát (Viện Hóa học Việt Nam) cho biết: “Nước mưa có độ pH < 4 thì được coi là mưa axit nghiêm trọng. Ở Việt Nam cũng đã từng xảy ra nhưng rất hiếm, chưa ghi nhận trường hợp nào xảy ra mưa axit gây hậu quả nghiêm trọng. Hiện tại, độ axit trong nước mưa ở Việt Nam chưa tới mức báo động nên người dân vẫn có thể dùng nước mưa để ăn uống bình thường”.

ThS Nguyễn Thị Th&uacute;y &Aacute;i
ThS Nguyễn Thị Thúy Ái

Ông Lê Văn Cát nhận định thêm “Thông thường, lượng axit trong dạ dày của người cao hơn hàng nghìn lần so với độ axit trong nước mưa. Hay trong bia, nước khoáng chúng ta uống hàng ngày vốn sẵn chứa axit (có chất bọt tạo ga CO2) cũng cao hơn gấp triệu lần so với nồng độ axit trong nước mưa. Bởi thế, nồng độ axit trong nước mưa ở Việt Nam chưa gây ảnh hưởng gì tới khỏe của người dân.”

ThS Nguyễn Thị Thúy Ái – Trưởng phòng Huấn luyện, Truyền thông (Trung tâm Quốc gia nước sạch và Vệ sinh Môi trường Nông thôn) khuyến cáo người dân có thể thu hứng và tích trữ nước mưa: “Đầu cơn mưa và mưa đầu mùa thì không nên hứng nước ngay, để tránh nhưng tạp chất bẩn.

Khi hứng nước mưa, không nên dùng tấm lợp xi măng bởi trong tấm đó chứa chất amiăng gây ung thư. Cũng không nên thu hứng bằng mái bằng nhà tranh mái rạ mà tốt nhất là hứng từ mái ngói, mái tôn, mái bê tông”.

http://xaluan.com/modules.php?name=News&file=article&sid=151862

Nguy cơ axít hóa môi trường

Sunday, 15. April 2007, 17:29:54

Axít hóa môi trường không phải là vấn đề gì mới mẻ, nhưng hiện nay rất đáng quan tâm bởi vì qui mô và mức độ ảnh hưởng của nó ngày càng mở rộng. Và một vấn đề nữa đáng lưu ý là giữa axít hóa môi trường và sự biến đổi khí hậu có mối liên hệ với nhau, đòi hỏi chúng ta cần phải có sự phối hợp trong việc nghiên cứu các vấn đề môi trường.

Từ những năm 60 của thế kỷ này, khi mà hiện tượng mưa axít bắt đầu được công luận chú ý, tình hình ô nhiễm khu vực đã trở nên gay gắt, thiệt hại ngày càng tăng lên, tác động của sự vận chuyển từ xa các chất ô nhiễm càng trở nên rõ ràng. Sự lắng đọng axít và ôdôn mặt đất được nhận biết là những tác nhân gây suy giảm rừng và cây trồng trên các lục địa và tác động xấu lên môi trường ở những vùng rộng lớn với những thiệt hại rõ ràng về kinh tế, sinh thái và sức khỏe con người.

Ở nước ta, Báo cáo hiện trạng môi trường Việt Nam năm 1994 do Bộ khoa học, công nghệ và môi trường trình Quốc hội đã nêu: “Sự lắng đọng axít trước đây chỉ thấy ở các nước phát triển thì nay đã lan ra các nước đang phát triển. Khu vực xung quanh ta và cả nước ta cũng đã quan sát được sự tích đọng axít – Đây là nguy cơ lớn đối với thiên nhiên, sản xuất, môi trường và sức khỏe con người”. Mục III.5 Chương III của Báo cáo đã nêu lên sự cố môi trường “lắng đọng axít”.

Kết quả phân tích thành phần hóa học nước mưa tại các điểm quan trắc Việt Trì, Láng, Cúc Phương, Phủ Liễn, Ninh Bình, Thanh Hóa cho thấy có hiện tượng lắng đọng axít ướt cục bộ: Có trận mưa pH = 4,37, có trận pH = 4,58. Đặc biệt ở Phủ Liễn năm 1991 đã xuất hiện độ pH trung bình tháng của nước mưa là 5,2; 5,4; 5,5; ở Cúc Phương năm 1990 trong các tháng 1, 2, 3, 4, 5, 10 độ pH = 5,1 ÷ 5,91. Do cơ sở dữ liệu và lưới quan trắc ít lại chưa tiêu biểu nên chưa thể đánh giá đầy đủ về sự lắng đọng a xít, nhưng có điều chắc chắn là ở nước ta đã có dấu hiệu lắng đọng axít cục bộ.

Cuối năm 1993 ở khu vực thị trấn Nhà Bè, các xã Phú Xuân, Phú Mỹ và một số xã lân cận đã xuất hiện một trận mưa diện rộng 100 km2 có màu đen lục và mùi hôi, hàm lượng nitrít khá lớn, có nhiều tạp chất hữu cơ, lượng cặn không tan cao và sơ bộ có thể khẳng định trận mưa này đã bị axít hóa.

Báo cáo hiện trạng môi trường Việt Nam 1997 và 1998 cũng khẳng định rằng, có dấu hiệu mưa axít ở Lào Cai và ở phía nam tại Minh Hải, Trà Vinh, thành phố Hồ Chí Minh và phụ cận, Bình Dương, Đồng Tháp; và so sánh 1997 và 1998 thì hiện tượng này gia tăng – ở xung quanh Nhà máy supephốtphát Lâm Thao đất đã bị axít hóa (pH = 1,9 ÷ 3,5).

Tình hình axít hóa trên thế giới.

Lắng đọng ướt – mưa axít, tuyết, mù, hơi nước trong mây và lắng đọng khô – các hạt axít và aerosôn – được tạo thành do một khối lượng lớn SO2 và NOx được phát thải ra từ việc đốt các chất khoáng. Các nguồn ổn định như đốt than đá ở các nhà máy điện, lò nấu kim loại, các nồi hơi công nghiệp là các địa chỉ chịu trách nhiệm gây ra các phát thải SO2 và khoảng 35% NOx. Các ống khói cao 300 m phun các khí thải vào khí quyển mà phần lớn chuyển thành các hạt sunphát, nitrát và phân phối vào cuối các luồng gió, nếu gặp các gió thịnh hành chúng có thể được mang đi xa hàng ngàn kilômét trước khi lắng đọng (tất nhiên lắng đọng khô thường xảy ra xung quanh nguồn phát thải).

Các loại xe có động cơ cũng là nguồn chính gây lắng đọng axít. Chúng sản sinh ra 30 – 50% lượng NOx phát thải ở các nước phát triển và nhiều chất hữu cơ bay hơi (VOCs) tạo ra ôdôn mặt đất. Ôdôn này cộng với tác dụng ngược trực tiếp của nó là một trung gian quan trọng trong việc biến đổi SO2 và NOx thành axít sunphuaric và axít nitríc.

Hiện tượng lắng đọng axít thường xảy ra ở các khu vực có mức độ công nghiệp hóa cao như ở châu Âu và Bắc Mỹ mà ở đó sự lắng đọng lưu huỳnh tại các vùng ô nhiễm nhất có thể gấp 10 lần nồng độ nền tự nhiên. Trung Quốc, nước thứ ba sau Liên Xô (trước đây) và Mỹ là nước thải SO2 lớn nhất, đã bắt đầu chịu hậu quả của mưa axít khu vực ở các tỉnh phía nam. ở Nhật Bản cũng đã quan trắc thấy lắng đọng axít.

Lắng đọng axit có tác động nghiêm trọng đến các hệ sinh thái nước và đất. Theo thời gian đất và nước mặt dần dần bị axít hóa. Mức axít hóa khi vượt quá ngưỡng sẽ phá hủy quá trình sinh hóa của các cơ thể sống trong đất và nước. Các loài nhạy cảm sẽ suy giảm nhanh khi axít phá hủy chu trình sinh sản của chúng. ở Na uy hiện tượng axít hóa các sông có cá hồi đã làm giảm một nửa sản lượng cá vào năm 1978 và phần còn lại bị giảm 40% sau 5 năm (1983).

Mức độ axít hóa đất cũng đạt đến mức báo động ở một số nơi. Trong 50 năm qua diện tích đất rừng bị axít hóa ở nhiều nước châu Âu đã tăng lên 5 đến 10 lần. Sự tăng lên về độ chua sẽ tác động xấu đến cán cân dinh dưỡng trong đất, gây ra sự tăng nhanh hiện tượng hòa tan các chất dinh dưỡng của cây trồng như các ion canxi, manhê, kali. Đồng thời độ axít cao của đất cũng dẫn đến tăng nhanh lượng nhôm hòa tan làm cho cây bị ngộ độc, gây hại các rễ nhỏ. Một vấn đề nữa là mưa axít hòa tan các kim loại nặng và các độc tố khác, gây hại cho thực vật và các vi sinh vật. Mức nitơ quá nhiều từ lắng đọng axít có thể kích thích tăng trưởng quá mức và thúc đẩy sự suy giảm các chất dinh dưỡng. Hiện nay các cánh rừng ở châu Âu đã nhận lượng nitơ cao gấp 4 – 8 lần so với nhu cầu do lắng đọng axít.

Mưa axít trực tiếp gây ra sự thay đổi về lá của cây trồng, đặc biệt khi xảy ra hiện tượng mù hoặc mây có lượng axít cao gấp 10 lần nước mưa bình thường. ở Bắc Mỹ các nhà nghiên cứu đã khẳng định rằng, mù axít có thể làm chết loài cây vân sam đỏ lá kim và thiệt hại về lá còn tăng lên do sự có mặt của ôdôn (ở các đường phân lưu cao mà vân sam đỏ sống có thể có mưa axít cao với pH dưới 2,2, mây và mù ôdôn cao bao phủ đến 3 000 giờ mỗi năm).

Ở Đức các khảo sát cho thấy tuy mức suy giảm của rừng có dấu hiệu giảm đi nhưng năm 1989 vẫn còn khoảng 1/2 số cây bị thiệt hại về rụng lá. ở nhiều nơi của Trung Âu và các nước cộng hòa vùng Baltic, thiên tai nghiêm trọng hơn và mức suy giảm rừung tăng lên. ở Ba Lan hơn 75% các cây đã bị ảnh hưởng và mức thiệt hại tăng lên 10% giữa năm 1988 và 1989.

Sự mất đi của rừng với mức độ như vậy có ảnh hưởng lớn tới kinh tế. Năm 1990 một nghiên cứu đã định giá thiệt hại do ô nhiễm đối với rừng châu Âu là khoảng 30 tỷ đô la mỗi năm, tương đương với mức thu nhập từ công nghiệp thép của Đức và gấp 3 lần các thỏa thuận về tài chính cho việc chống ô nhiễm của châu Âu.

Sự suy giảm rừng cũng xảy ra ở Bắc Mỹ tuy mức độ có thấp hơn ở châu Âu. Các nghiên cứu mới đây đã xác định mưa axít là nguyên nhân chính gây ra chết loài vân sam đỏ ở núi Appalachian. Lắng đọng axít cũng gây ra chết loài mía ở Canađa và đông bắc Mỹ. Ngoài gây thiệt hại đối với các hệ sinh thái, mưa axít còn hủy hoại vật liệu đá và kim loại trong các công trình xây dựng, đặc biệt ở châu Âu nhiều công trình di sản văn hóa nghệ thuật đã bị hủy hoại dần dưới tác động của mưa axít. Hiện nay các quốc gia ngày càng quan tâm đến tác động đối với sức khỏe do các sol khí axít gây ra từ sự biến đổi hóa học của SO2 và NOx trong khí quyển. Các so lkhí axít ảnh hưởng xấu đến sức khỏe thông qua sự tác động lên các bộ phận của hệ hô hấp, gây ra các bệnh như hen và viêm cuống phổi.

Mặc dù có nhiều tiến bộ trong kiểm soát các phát thải hình thành mưa axít ở một số nước, nhưng sự uy hiếp toàn cầu do mưa axít còn lâu mới vượt qua được. Thật vậy, mức độ mưa axít đã tăng nhanh ở châu á. Các phát thải SO2 đến năm 2010 sẽ tăng lên gấp 3 lần so với năm 1990 nếu xu thế hiện nay vẫn tiếp tục. Để giảm thiệt hại do mưa axít ở châu á và để tránh thiệt hại nặng nề hơn trong tương lai đòi hỏi phải đầu tư lớn trong kiểm soát như châu Âu và Bắc Mỹ đã làm trong 20 năm qua.

Hiện nay mưa axít đã xảy ra nhiều và đang được quan tâm nghiên cứu, theo dõi ở các nước đang phát triển, nhất là ở một số bộ phận của châu á – Thái Bình Dương. Sự lắng đọng axít đặc biệt cao đã xuất hiện ở Trung Quốc, đông bắc ấn Độ, Thái Lan, Triều Tiên ở gần hoặc cuối hướng gió của các đô thị chính hoặc trung tâm công nghiệp. Các nhà nghiên cứu ấn Độ đã phát hiện ra rằng, ở gần một nhà máy mà mức lắng đọng SO2 tăng gấp 5 lần so với tải lượng tới hạn mà đất có thể hấp thu an toàn, lúa mì bị giảm 49% sản lượng so với các cánh đồng cách đó 22 km. ở tây nam Trung Quốc tại Quý Châu và Tứ Xuyên, người ta đã phát hiện thấy mưa axít rơi xuống 2/3 diện tích đất nông nghiệp và gây thiệt hại trên 16% diện tích. Các hệ sinh thái khác cũng bắt đầu bị thiệt hại. Một nghiên cứu về thông và sồi trong vùng bị mưa axít của Bắc Triều Tiên cả ở thành thị và nông thôn cho thấy một sự suy giảm về sản lượng đã gia tăng từ 1970…

Các thiệt hại này có thể phòng tránh được nếu các công nghệ kiểm soát, khống chế ô nhiễm hiện đại như máy lọc ống hơi (flue – gas scrubbers) được sử dụng rộng rãi và nếu các chất đốt có hàm lượng lưu huỳnh thấp được sử dụng. Người ta đã tính được rằng, nếu dùng các công nghệ chống ô nhiễm có thể giảm lắng đọng axít đi 1/2 trong giai đoạn 1990-2020 ở châu á mặc dù mức dùng năng lượng có thể tăng lên gấp 3 lần. Nhưng chi phí cho bảo vệ môi trường là khá lớn, ước khoảng 90 tỉ đô la/năm cho toàn vùng châu á hoặc khoảng 0,6% tổng sản phẩm quốc nội của vùng.

Phương án lựa chọn chi phí hiệu quả nhất là chấp nhận các biện pháp năng lượng có hiệu quả, giảm mức tiêu thụ năng lượng và giảm lượng phát thải (theo tính toán của Ngân hàng thế giới có thể tiết kiệm từ 1/4 đến 1/3 chi phí khống chế, thêm vào đó các biện pháp này có thể thu được lợi ích như chất lượng không khí tốt hơn và các khí nhà kính cũng giảm).

Một số vấn đề cần quan tâm.

  • Axit hóa môi trường xảy ra khi tồn tại hai điều kiện chính:

Thứ nhất: Một vùng có sức hoạt động kinh tế cao, sử dụng các chất đốt khoáng dẫn đến phát thải một lượng lớn các chất bẩn axít được vận chuyển trong địa phương và từ xa đến.

Thứ hai: Đất, rừng và các hệ sinh thái nước bị ô nhiễm bởi các chất bẩn axít.

Cho đến nay phần lớn các nước đang phát triển chưa bị axít hóa do chỉ có điều kiện thứ hai tồn tại, trong khi axít hóa đã xảy ra ở Bắc Mỹ, châu Âu trong hai thập niên qua. Tuy vậy hiện nay một số vùng ở châu á kinh tế phát triển nhanh chóng đã có điều kiện thứ nhất và có rủi ro bị axít hóa là hiện thực. Theo đánh giá gần đây thì bắc và trung châu Âu, bộ phận phía đông Trung Quốc và phần Nam á là những vùng có nguy cơ rủi ro lớn về thiệt hại do axít hóa.

  • Khí hậu thay đổi và axít hóa được xác định là các vấn đề thời đại và tiềm tàng trong cả các nước phát triển và đang phát triển. Theo các nghiên cứu mới gần đây thì sự chồng chập và tương tác của hai vấn đề này đã nổi lên: Thứ nhất là sự tăng mạnh của việc sử dụng các chất đốt khoáng và phát thải nhiều chất ô nhiễm axít cũng như các khí nhà kính. Thứ hai, các thay đổi trong nền của thời tiết do khí hậu thay đổi đã tác động đến cường độ và sự phân bố của sự lắng đọng axít. Thứ ba, có thể quan trọng nhất là do sự phức tạp của khí hậu thay đổi, sự phát thải các chất ô nhiễm axít, nhất là SO2 dẫn đến sự tích tụ ở trên cao của sol khí che khuất tác dụng của các khí nhà kính.

Hai vấn đề toàn cầu quan trọng (khí hậu thay đổi và axít hóa) có cùng nguyên nhân – mức độ hoạt động kinh tế cao gây ra hậu quả phát thải một lượng khổng lồ các chất ô nhiễm vào khí quyển. Các hoạt động công nghiệp, nhất là trong sản xuất năng lượng từ đốt các chất khoáng và sử dụng các nguyên liệu thải vào khí quyển các khí axít SO2, NOx và các khí nhà kính NO2, CO2, halocacbon và các chất phụ khác không mong muốn, chúng gắn với sự thay đổi khí hậu. Năm 1990, việc đốt các chất khoáng sản sinh ra 80% các phát thải về CO2 – một khí nhà kính chính và 94% các phát thải SO2 ở châu Âu – nguyên nhân chính của sự axít hóa môi trường trong các khu vực này.

  • Các phát thải chất ô nhiễm gây axít hóa, nhất là SO2 dẫn đến sự tích tụ các hạt ở tầng cao của khí quyển làm che lấp một bộ phận của thay đổi khí hậu do các khí nhà kính. Nếu mức phát thải SO2 toàn cầu tăng lên song song với việc dùng các chất đốt khoáng ở các nước đang phát triển khi mà khối lượng của các hạt trong khí quyển cũng tăng lên, sẽ có tác dụng giới hạn bớt xu thế nóng lên.

Hơn thế, nhiệt độ trung bình toàn cầu dự tính sẽ tăng lên đáng kể khi mà SO2 tăng một cách không kiểm soát được và xu thế thay đổi của hệ thống thời tiết toàn cầu sẽ xảy ra. Nếu việc phát thải các khí gây axít hóa được giảm đi trong khi các khí nhà kính không giảm thì sự tăng nhiệt độ toàn cầu sẽ ảnh hưởng đến cả hai khối các nước công nghiệp và đang phát triển. Điều này nói lên sự cần thiết phối hợp nghiên cứu mối tương tác giữa các vấn đề môi trường hơn là chỉ nghiên cứu một cách đơn độc.

Núi lửa cổ đại phun trào gây ra thảm họa tuyệt chủng toàn cầu

Cập nhật lúc 12h02′ ngày 03/06/2009

Một đợt phun trào núi lửa mạnh mẽ chưa hề được biết đến trước đây đã dẫn đến thảm họa tuyệt chủng toàn cầu xảy ra 260 triệu năm trước. Nhưng mới đây nó đã bị các nhà khoa học thuộc Đại học Leeds buộc phải lộ diện.

Vụ phun trào tại tỉnh Emeishan ở tây nam Trung Quốc đã giải phóng một triệu kilomet khối nham thạch, bao phủ một diện tích lớn gấp 5 lần diện tích xứ Wales, tiêu diệt sinh vật biển trên toàn thế giới.

Tuy vậy các nhà khoa học vẫn có thể chỉ ra thời gian chính xác của sự kiện phun trào đồng thời liên kết nó trực tiếp với sự kiện tuyệt chủng hàng loạt trong một nghiên cứu công bố trên tạp chí Science. Đó là bởi vì sự kiện phun trào xảy ra ở vùng biển nông, điều này có nghĩa là lớp dung nham xuất hiện ngày nay là lớp đá lửa khác biệt bị kẹp giữa các lớp đá trầm tích có chứa các sinh vật biển đã bị hóa thạch có thể được xác định niên đại dễ dàng. Lớp đá hóa thạch ngay sau vụ phun trào đã chứng minh có thảm họa tuyệt chủng hàng loạt của nhiều dạng sống khác nhau, rõ ràng nó đã liên kết sự phun trào của núi lửa đối với một thảm họa môi trường kinh hoàng.

Ảnh hưởng toàn cầu của vụ phun trào có nguyên nhân là khoảng cách nằm gần của núi lửa với biển nông. Sự tiếp cận của dòng nham thạch tuôn trào với tốc độ lớn và nước biển đã gây ra vụ nổ khủng khiếp ngay khi vụ phun trào chỉ vừa mới bắt đầu, kết quả là một lượng khổng lồ sunphua dioxit bị hất tung vào tầng bình lưu.

Các nhà nghiên cứu tin rằng họ đã tìm ra bằng chứng về sự phun trào núi lửa kinh hoàng dẫn đến thảm họa tuyệt chủng toàn cầu xảy ra cách đây 260 triệu năm. (Ảnh: iStockphoto/James Steidl)

Giáo sư Paul Wignall – nhà cổ sinh vật học thuộc Đại học Leeds kiêm tác giả chính của bài viết – cho biết: “Khi tuôn trào với tốc độ lớn, mắc ma có độ đặc thấp sẽ gặp biển nông giống như ném nước vào chảo rán khoai tây vậy. Vụ nổ dữ dội làm sản sinh ra các đám mây hơi nước khổng lồ”.

Sunphua đioxit bị phun vào bầu khí quyển khiến cho các đám mây lớn trải khắp toàn cầu, làm nguội hành tinh và gây ra cơn mưa axit dữ dội. Các nhà khoa học đã thu được thông tin từ hóa thạch rằng thảm họa môi trường này xảy ra ngay thời điểm khởi đầu của vụ phun trào núi lửa.

Giáo sư Wignall thêm rằng: “Chúng ta có thể quan sát thấy sự kiện tuyệt chủng bất ngờ của sinh vật biển rất rõ ràng trong hóa thạch. Hóa thạch đã liên kết sự kiện phun trào núi lửa mạnh mẽ với thảm họa môi trường toàn cầu, đây là một mối liên hệ vốn thường gây ra tranh cãi”.

Các nghiên cứu trước đây cho rằng khí cacbonic gia tăng do các vụ phun trào núi lửa sinh ra đã gây ra thảm họa tuyệt chủng. Tuy nhiên do có tác động làm ấm lâu dài xảy ra cùng với hiện tượng cacbonic trong khí quyển gia tăng (như chúng ta có thể thấy khi khí hậu hiện tại thay đổi), mối liên hệ giữa sự thay đổi môi trường toàn cầu và các vụ phun trào núi lửa rất khó có thể được khẳng định rõ ràng.

Nghiên cứu được tiến hành với sự cộng tác của Đại học khoa học địa chất Trung Quốc tại Wuhan và được tài trợ bởi Hội đồng nghiên cứu môi trường tự nhiên, Anh Quốc.

Tài liệu tham khảo:
Paul B. Wignall, Yadong Sun, David P. G. Bond, Gareth Izon, Robert J. Newton, Stéphanie Védrine, Mike Widdowson, Jason R. Ali, Xulong Lai, Haishui Jiang, Helen Cope, and Simon H. Bottrell. Precise coincidence of explosive volcanism, mass extinction and carbon isotope fluctuations in the Middle Permian of China. Science, 2009; DOI: 10.1126/science.1171956

G2V Star (Theo ScienceDaily)

Mưa axit tàn phá môi trường sống của con người

Cập nhật lúc 14h45′ ngày 08/06/2007

Mưa axit là do sự kết hợp của các oxit phi kim và nước. Nước có sẵn trong tự nhiên, các oxit được thải ra từ hoạt động của con người, đặc biệt là việc sử dụng các loại nhiên liệu hóa thạch. Và điều đó dẫn đến kết quả là những cơn mưa chứa đầy chất axit.

Nguyên nhân chủ yếu là các loại oxit nito (N2O, N2O3, N2O4…) và oxit lưu huỳnh (SO, SO2, SO3). Những loại oxit này tạo nên những loại axit mạnh nhất là axit nitric (HNO3), và axit sulfuric (H2SO4). Ngoài ra còn một số nguyên nhân dẫn đến hiện tượng mưa axit trong tự nhiên như những vụ phun trào của núi lửa, hay các đám cháy…

Tuy nhiên nguyên nhân chủ yếu vẫn bắt nguồn từ các hoạt động của con người. Chỉ trong năm 1977, nước Mĩ đã thải vào bầu khí quyển 31 triệu tấn oxit sulfur và 22 triệu tấn oxit nito. Điều này có nghĩa là khoảng 500 kg/ 1 người.

80% oxit sulfur là do hoạt động của các thiết bị tạo năng lượng, 15% là do hoạt động đốt cháy của các ngành công nghiệp khác nhau, và 5% từ các nguồn khác. Còn đối với oxit nito, 1/3 là do hoạt động của các máy phát năng lượng, 1/3 khác là do hoạt động đốt nhiên liệu để chuyển hóa thành năng lượng và phần còn lại cũng do các nguồn khác nhau.

Mưa axit đặc biệt nguy hại đối với môi trường. Đôi khi, kể cả tuyết cũng có thể là axit, và những bông tuyết thậm chí còn có thể bị nhuốm đen. Khi những bông tuyết này tan ra, nguồn nước sinh ra từ đó có nồng độ axit cao gấp 10 lần so với nước mưa axit thông thường. Cơn mưa axit đầu tiên được chỉ ra là vào những năm 50 thế kỉ 20 tại Na-Uy. Khi đó các nhà khoa học đang bị thách thức bởi hiện tượng rất nhiều loài cá trong các hồ của Na-Uy bị thoái hóa.

Đất nước láng giềng Thụy Điển, 4.000 hồ không hề có cá; 9.000 hồ bị mất một phần lớn các loài cá đang sinh sống, trong khi đó có tới 20.000 hồ khác cũng bị ảnh hưởng bởi mưa axit.


Một cánh rừng thông của Czech bị hủy hoại bởi mưa axit.
(Ảnh chụp tháng 7/2006, theo PD)

Các nhà nghiên cứu nhận thấy rằng các loại oxit gây mưa axit ở Scandinavia do ngành công nghiệp nặng của nước Anh thải ra, đặc biệt là các nhà máy ở Sheffield và Birmingham, và cả vùng công nghiệp Ruhr của nước Đức.

Những đám khói này mang các hợp chất oxit đến tận các ngọn núi của bán đảo Scandinavia, và tại đây mưa sẽ đem chúng trở lại mặt đất. Hàng năm có đến 56.000 tấn oxit sulfur theo mưa thấm vào lòng đất Na-Uy, và 75% trong số đó được “nhập khẩu” theo cách nói trên.

Ở Vương quốc Anh, mưa axit cũng giống ở Scandinavia, và các cơn mưa axit hầu hết diễn ra ở vùng Perth (Scotland): độ axit cao gấp 500 lần so với axit trong tự nhiên.

Bề mặt đá cẩm thạch tiếp xúc với mưa đang ngày trở nên thô ráp bởi chất canxit (CaCO3) bị hòa tan dần trong những cơn mưa. Đây là chi tiết trên cột chính của nhà tưởng niệm các Tổng thống Mĩ có tên gọi Jefferson Memorial tại thủ đô Washington, D.C, Mĩ. (theo Softpedia News)

Ông khói các nhà máy mạ đồng và kền ở thành phố Sudbury của Canada với chiều cao hơn 400m thải 1% lượng sulfur vào bầu khí quyển của Trái Đất. Các loài cá bị diệt vong là bởi mưa axit đã hủy hoại nguồn thức ăn của chúng, các loài thực vật và thế hệ tiếp sau. Và không có cá, các loài chim và động vật có vú cũng bị tuyệt diệt.Mưa axit cũng giết hại các khu rừng. Chúng rửa trôi hoàn toàn những chất dinh dưỡng và những vi sinh vật có lợi. Mưa axit cũng làm yếu đi sức đề kháng của cây cối, dễ mắc bệnh và bị kí sinh trùng… Cây thông là loài cây đặc biệt nhạy cảm với mưa axit.

Hơn một nửa các cánh rừng của miền tây nước Đức đang ở trong những mức độ bị phá hủy khác nhau và giá trị lượng cây gỗ bị hủy hoại bởi mưa axit ước tính đạt 800 triệu đôla hàng năm.

Năm 1984, Thụy Sĩ bị thiệt hại khoảng 12 triệu cây (14% diện tích rừng cả nước), trong khi đó diện tích rừng bị mưa axit phá hủy ở Hà Lan là 40%. Và các công trình của con người cũng chịu tác hại bởi mưa axit: xi măng, bê tông, vôi, đá cẩm thạch, kim loại, chất bazan và đá granit….và những thiệt hại đó là không hề nhỏ.

Ở thủ đô London, mưa axit đang tàn phá nghiêm trọng các công trình nghệ thuật bằng đá từ thế kỉ 18, 19, như Nghị viện Anh, Tu viện Westminster và Nhà thờ Saint Paul.

Sức khỏe con người cũng bị ảnh hưởng nhiều bởi mưa axit. Chúng làm cơ quan hô hấp của con người dễ bị thương tổn hơn, gây ra các bệnh về phổi, và khiến bệnh tình của các bệnh nhân ngày càng trầm trọng hơn.

Mạnh Đức

Theo Softpedia News, VietNamNet

Hỏi đáp về Môi trường (9)

Nguyên nhân nào dẫn đến thủng tầng Ozon?
Mưa axit là gì?
Vì sao buổi sớm, không khí trong thành phố lại bị ô nhiễm rất nặng?
Vì sao không khí trong nhà cũng bị ô nhiễm?
Không khí trong thành phố và làng quê khác nhau như thế nào?

Nguyên nhân nào dẫn đến thủng tầng Ozon?

Tháng 10 năm 1985, các nhà khoa học Anh phát hiện thấy tầng khí ozon trên không trung Nam cực xuất hiện một “lỗ thủng” rất lớn, bằng diện tích nước Mỹ. Năm 1987, các nhà khoa học Đức lại phát hiện tầng khí ozon ở vùng trời Bắc cực có hiện tượng mỏng dần, có nghĩa là chẳng bao lâu nữa tầng ozon ở Bắc cực cũng sẽ bị thủng. Tin này nhanh chóng được truyền khắp thế giới và làm chấn động dư luận.

Các nhà khoa học đều cho rằng, nguyên nhân này có liên quan tới việc sản xuất và sử dụng tủ lạnh trên thế giới. Sở dĩ tủ lạnh có thể làm lạnh và bảo quản thực phẩm được lâu là vì trong hệ thống ống dẫn khép kín phía sau tủ lạnh có chứa loại dung dịch freon thể lỏng (thường gọi là “gas”). Nhờ có dung dịch hoá học này tủ lạnh mới làm lạnh được. Dung dịch freon có thể bay hơi thành thể khí. Khi chuyển sang thể khí, freon bốc thẳng lên tầng ozon trong khí quyển Trái đất và phá vỡ kết cầu tầng này, làm giảm nồng độ khí ozon.

Không những tủ lạnh, máy lạnh cần dùng đến freon mà trong dung dịch giặt tẩy, bình cứu hoả cũng sử dụng freon và các chất thuộc dạng freon. Trong quá trình sản xuất và sử dụng các hoá chất đó không tránh khỏi thất thoát một lượng lớn hoát chất dạng freon bốc hơi bay lên phá huỷ tầng ozon. Qua đó chúng ta thấy rằng, tầng zon bị thủng chính là do các chất khí thuộc dạng freon gây ra, các hoá chất đó không tự có trong thiên nhiên mà do con người tạo ra. Rõ ràng, con người là thủ phạm làm thủng tầng ozon, đe doạ sức khoẻ của chính mình.

Sớm ngừng sản xuất và sử dụng các hoá chất dạng freon là biện pháp hữu hiệu nhất để cứu tầng ozon. Nhiều hội thảo quốc tế đã bàn tính các biện pháp khắc phục nguy cơ thủng rộng tầng ozon. 112 nước thuộc khối Cộng đồng Châu Âu (EEC) đã nhất trí đến cuối thế kỷ này sẽ chấm dứt sản xuất và sử dụng các hoá chất thuộc dạng freon. Vì vậy các nhà khoa học đang nghiên cứu sản xuất loại hoá chất khác thay thế các hoá chất ở dạng freon, đồng thời sẽ chuyển giao công nghệ sản xuất cho các nước đang phát triển. Có như vậy, việc ngừng sản xuất freon mới trở thành hiện thực. Muốn đạt được yêu cầu thiết thực này, không chỉ riêng một vài nước mà cả thế giới đều phải cố gắng thì mới có thể bảo vệ được tầng ozon của Trái đất.

Mưa axit là gì?

Mưa axit được phát hiện ra đầu tiên năm 1948 tại Thuỵ Điển. Nguyên nhân là vì con người đốt nhiều than đá, dầu mỏ. Trong than đá và dầu mỏ thường chứa một lượng lưu huỳnh, còn trong không khí lại rất nhiều khí nitơ. Trong quá trình đốt có thể sinh ra các khí Sunfua đioxit (SO2), Nitơ đioxit (NO2). Các khí này hoà tan với hơi nước trong không khí tạo thành các hạt axit sunfuaric (H2SO4), axit nitơric (HNO3). Khi trời mưa, các hạt axit này tan lẫn vào nước mưa, làm độ pH của nước mưa giảm. Nếu nước mưa có độ pH dưới 5,6 được gọi là mưa axit. Do có độ chua khá lớn, nước mưa có thể hoà tan được một số bụi kim loại và ôxit kim loại có trong không khí như ôxit chì,… làm cho nước mưa trở nên độc hơn đối với cây cối, vật nuôi và con người.

Mưa axit ảnh hưởng xấu tới các thuỷ vực (ao, hồ). Các dòng chảy do mưa axit đổ vào hồ, ao sẽ làm độ pH của hồ, ao giảm đi nhanh chóng, các sinh vật trong hồ, ao suy yếu hoặc chết hoàn toàn. Hồ, ao trở thành các thuỷ vực chết.

Mưa axit ảnh hưởng xấu tới đất do nước mưa ngầm xuống đất làm tăng độ chua của đất, hoà tan các nguyên tố trong đất cần thiết cho cây như canxi (Ca), Magiê (Mg),… làm suy thoái đất, cây cối kém phát triển. Lá cây gặp mưa axit sẽ bị “cháy” lấm chấm, mầm sẽ chết khô, làm cho khả năng quang hợp của cây giảm, cho năng suất thấp.

Mưa axit còn phá huỷ các vật liệu làm bằng kim loại như sắt, đồng, kẽm,… làm giảm tuổi thọ các công trình xây dựng.

Vì sao buổi sớm, không khí trong thành phố lại bị ô nhiễm rất nặng?

Xưa nay chúng ta thường nghe nói “không khí buổi sớm trong lành nhất” và mọi người dân thành phố thường tập luyện, chạy nhảy, hoạt động thể dục thể thao vào sáng sớm hàng ngày. Nhưng gần đây, các nhà khoa học lại cảnh tỉnh rằng ở những thành phố có ngành công nghiệp và giao thông vận tải phát triển, không khí buổi sớm không những trong lành mà còn bị ô nhiễm rất nặng.

Vì sao các nhà khoa học lại đưa ra kết luận trái ngược với nhận định lâu nay của nhiều người?

Mức độ trong lành của không khí được quyết định bởi thành phần các chất trong không khí, nhất là những chất độc hại đối với cơ thể con người. Ban ngày, ánh nắng mặt trời làm nhiệt độ không khí tăng cao, khói thải của các nhà máy, xe cộ và bụi đất cát do các loại xe cuốn lên bay lửng lơ trong không khí. Đến khi mặt trời lặn, nhiệt độ không khí giảm dần. Qua một đêm, mặt đất mát dần, nhiệt lượng toả vào không trung cách mặt đất mấy trăm mét hình thành tầng không khí trên nóng dưới lạnh, giống như chiếc nồi áp xuống mặt đất. Lúc này khói thải của các nhà máy không thể bốc lên cao để toả vào tầng mây mà chỉ luẩn quẩn ở gần mặt đất với nồng độ mỗi lúc một đậm đặc. Nếu lúc này trên mặt đất lặng gió, độ ô nhiễm không khí sẽ càng tăng.

Vì thế, các nhà khoa học khuyên dân cư các thành phố công nghiệp nên chuyển thời gian tập thể dục và rèn luyện cơ thể từ sáng sớm sang khoảng 10 giờ sáng và 3 giờ chiều là thích hợp nhất.

Vì sao không khí trong nhà cũng bị ô nhiễm?

Hiện nay nhiều gia đình ở nước ta vẫn dùng than làm chất đốt. Bếp than thải ra một lượng khí cacbonic khá lớn, nhưng dù dùng bếp ga hoặc bếp dầu trong nhà cũng không tránh được việc thải ra khí cacbonic. Ngoài ra, trong quá trình xào nấu thức ăn sẽ bốc ra các hạt chất dầu mỡ làm ô nhiễm không khí trong bếp. Mặt khác, điều kiện sống hiện nay ở các thành phố còn chật chội, cơ thể con người luôn toả ra khí cacbonic và mồ hôi, chưa kể những người hút thuốc lá thải ra một lượng lớn khói thuốc làm ô nhiễm không khí trong nhà ở. Những nơi ồn ào hoặc giá rét, người ta lại thường đóng kín cửa sổ (để chống ồn và chống rét) khiến các loại khí độc hại không thoát ra ngoài được.

Những đồ dùng mới sử dụng trong các gia đình như thảm nilon, giấy dán tường, đồ nhựa, v.v…cũng đem theo vào phòng ở các chất ô nhiễm như toluen, metylbenzen, formalđehyt,… Những hoá chất này đều rất có hại đối với sức khỏe con người.

Nếu trong nhà có nuôi chó, mèo và trồng nhiều hoa, cây cảnh sẽ làm tăng thêm lượng khí cacbonic và mùi hôi trong phòng ở. Bụi và các tạp chất khí kể trên luôn bay lơ lửng trong không khí kèm theo các loại vi trùng, dĩ nhiên sẽ ảnh hưởng không tốt tới sức khỏe con người.

Muốn giải quyết vấn đề ô nhiễm không khí trong nhà ở, cần mở nhiều cửa sổ thông khí, thường xuyên quét dọn lau chùi nhà cửa, làm vệ sinh cá nhân đều đặn và không nên nuôi động vật trong phòng ở.

Không khí trong thành phố và làng quê khác nhau như thế nào?

Vào mùa hè, khi đi từ thành phố về làng quê, ta cảm thấy không khí ở hai vùng khác nhau rất rõ rệt. Những người thường sống ở thôn quê cũng rất tự hào về không khí trong lành nơi mình cư trú. Các nhà khoa học đã nghiên cứu và chỉ ra những khác nhau cơ bản trong không khí hai vùng là:

Thứ nhất: Không khí thành phố thường có nhiều vi khuẩn, vi trùng gây bệnh hơn ở nông thôn, bởi vì trong thành phố mật độ dân cao, trao đổi hàng hoá nhiều, sản xuất và xây dựng phát triển, tạo ra lượng rác lớn, phân tán, khó thu gom kịp thời, gây ô nhiễm môi trường. Người từ các vùng khác nhau qua lại nhiều, mang mầm bệnh từ nhiều nơi đến. Không khí lưu thông kém vì vướng nhà cao tầng, cũng tạo cơ hội cho vi trùng gây bệnh tập trung và tồn tại lâu hơn.

Ở nông thôn, mật độ dân, lưu lượng người và hàng hoá qua lại đều thấp, nên chất thải ít, chủ yếu là chất hữu cơ, một loại rác thải có thể dùng làm phân bón ruộng. Nông thôn người thưa, nhiều cây xanh tạo cảm giác tươi mát, dễ chịu, lại có khả năng tiết ra được những chất kháng khuẩn thực vật, nên lượng vi trùng gây bệnh trong không khí cũng ít hơn.

Thứ hai: Nhiệt độ không khí thành phố cao hơn ở nông thôn, còn độ ẩm lại thấp hơn. Vào mùa hè, nhiệt độ không khí thành phố có thể cao hơn các vùng nông thôn từ 2 đến 60C, nhiệt độ tại những bề mặt phủ gạch, bê tông cao hơn nhiệt độ không khí từ 5 đến 80C. Đó là do ở thành phố không khí lưu thông kém, làm giảm sự phân tán nhiệt. Nhiều xe máy, ô tô đi lại, nhiều nhà máy, xí nghiệp sản xuất dùng lò đốt, thải nhiều nhiệt vào không khí. Gạch, bê tông, đường nhựa hấp thụ bức xạ mặt trời rất tốt, nóng lên và toả nhiệt vào không khí. Mặt nước ao hồ lại ít, đất bị phủ gạch, nhựa, bê tông không cho nước trong đất bốc hơi, vừa không tiêu hao được nhiệt, vừa làm không khí khô hơn.

Ở nông thôn, ngược lại, không khí không bị che chắn nên lưu thông tốt hơn. Các nguồn thải nhiệt nhân tạo như ở thành phố ít hơn nhiều. Cây cối lại nhiều, tạo một lớp phủ tốt chắn không cho ánh sáng mặt trời trực tiếp đốt nóng đất và còn tiêu thụ một phần năng lượng mặt trời cho quang hợp. Mặt đất và mặt nước đều bốc hơi tốt, tiêu thụ bớt năng lượng từ ánh nắng mặt trời.

Thứ ba: Không khí thành phố nhiều bụi bẩn hơn không khí nông thôn do trong thành phố tập trung nhiều nhà máy xí nghiệp, thải nhiều khói, bụi, khí độc. Việc xây dựng, đào đất, chuyên chở vật liệu diễn ra thường xuyên, rác thải không dọn kịp, là nguồn tạo ra bụi bẩn đáng kể. Trên đường phố xe máy, ô tô thường xuyên đi lại, nghiền vụn đất cát và cuốn bụi bay lên. Không khí khô nóng, làm cho bụi lơ lửng nhiều và lâu hơn. Bề mặt thành phố không bằng phẳng, nhiều nhà cao thấp khác nhau, cũng dễ tạo các vùng gió xoáy, cuốn bụi bay lên.

Thứ tư: Trong thành phố, động cơ ô tô, xe máy, các hoạt động sản xuất, buôn bán, giải trí tạo ra nhiều tiếng ồn. Thành phố lại không có nhiều các dải cây xanh cản tiếng ồn, mà chỉ có nhiều nhà xây, bê tông, làm cho sóng âm dội đi, dội lại, hỗn độn và khó chịu hơn.

Thứ năm: Không khí thành phố, nhất là những vùng công nghiệp và giao thông phát triển, thường có chứa rất nhiều khí độc hại như ôxit của lưu huỳnh, nitơ, cacbon, chì… Các chất này có tác động xấu tới sức khoẻ con người và môi trường gây nên các bệnh phát sinh từ ô nhiễm không khí.

Tóm lại, không khí thành phố thường bị ô nhiễm nặng nề hơn nhiều so với không khí nông thôn, do đó không có lợi cho tâm lý và sức khoẻ con người. Nhiều quốc gia trên thế giới đã và đang đầu tư nhiều công sức và tiền của cho việc nghiên cứu tìm ra những giải pháp khắc phục hiện trạng ô nhiễm môi trường nặng nề tại các thành phố lớn. Tuy nhiên vấn đề vẫn chưa thể giải quyết ngay được. Những người đang sống trong các thành phố, đô thị đông dân cần hiểu rõ những nhược điểm của môi trường nơi đây, để tự có biện pháp bảo vệ và tham gia vào sự nghiệp bảo vệ môi trường chung của cả cộng đồng.

http://www.pi-company.com.vn

Mỹ: khí SO2 tăng 4% trong năm 2003

Thứ sáu, 24 Tháng chín 2004, 08:33 GMT+7

Vào thứ tư 22/9, chính phủ cho biết lượng khí SO2 (nguyên nhân gây ra các cơn mưa acid) đã tăng 4% trong năm 2003, nhưng có thể sẽ không ảnh hưởng đến mục tiêu chất lượng không khí trong thời gian tới.

Chính phủ cũng tiên đoán rằng việc tăng này sẽ kéo dài không quá 1 năm.

Các nhà máy năng lượng than đá là nguyên nhân chính gây ra tình trạng tăng trên khi tạo ra đến 10,6 triệu tấn SO2 vào năm 2003 so với 10,2 triệu tấn vào năm 2002 và lập lại thành tích của năm 2001.

Tuy nhiên ô nhiễm môi trường do SO2 đã giảm mạnh trong vòng 2 thập kỷ qua (từ 17,3 triệu tấn vào năm 1980 xuống còn 11,2 triệu tấn vào năm 2000).

Bộ bảo vệ môi trường (EPA) tiết lộ rằng những thông tin này là một phần trong bản báo cáo thường niên của Quốc Hội.

Năm chất gây ô nhiễm khác là: khí CO, oxit nitơ, muội, hợp chất hữu cơ dễ bay hơi và chì. Tuy nhiên EPA ước tính rằng khối lượng của chúng đã giảm xuống 2% (từ 150,2 triệu tấn vào năm 2002 xuống còn 147,7 triệu tấn vào năm 2003).

Leavitt, người nói với hội nghị bằng điện thoại từ Concord, N.H cho biết:” Bây giờ không khí đã sạch hơn 1 năm trước, nó cũng sạch hơn 2 năm trước đây. Không khí bây giờ sạch nhất trong vòng 3 thập kỷ qua nhưng rõ ràng là chúng ta vẫn chưa hành động. Có nhiều điều chúng ta cần học hỏi từ kinh nghiệm từ chương trình mưa acid trong thập kỷ qua (bắt đầu từ năm 1995). Đó là một chương trình rất hiệu quả”.

ANH QUÝ (Theo AP)
Việt Báo // showsource(“4″); // (Theo_TuoiTre)
Follow

Get every new post delivered to your Inbox.